Khi ông bà tập làm 'công dân số'
Trong kỷ nguyên số, công nghệ thông tin mang đến sự tiện lợi vượt bậc nhưng cũng vô tình tạo ra rào cản thế hệ. Trước làn sóng ấy, nhiều người cao tuổi (NCT) không chọn cách đứng ngoài cuộc. Từ miền xuôi đến miền ngược, hành trình học cách gõ cửa thế giới ảo đầy bỡ ngỡ nhưng cũng đầy nỗ lực của các bậc cao niên đang thắp lên những câu chuyện lay động về tình thân và sự kết nối.

Bà Nguyễn Thị Hương (ngoài cùng, bên phải) hướng dẫn hội viên NCT tổ dân phố Tây Sơn 4 chuyển đổi số.
Trong ngôi nhà sàn truyền thống giữa núi rừng, bà Cao Thị Diệp (dân tộc Thái) ở thôn Khằm, xã Hồi Xuân đang tỉ mẩn bấm từng phím trên chiếc điện thoại thông minh. Việc đầu tiên bà làm khi có máy là nhờ con cháu cài đặt ngay ứng dụng định danh điện tử VNeID, tài khoản an sinh và mạng xã hội để tiện liên lạc. Chị Cao Thị Oanh, cháu bà Diệp, chia sẻ rằng để hướng dẫn cho người già, người trẻ phải cực kỳ kiên nhẫn. Do mắt mờ, tay chân kém linh hoạt, từng thao tác nhỏ nhất bà Diệp phải lặp đi lặp lại nhiều lần. Sự bỡ ngỡ ban đầu là điều khó tránh, nhưng tình yêu thương và sự bền bỉ của gia đình đã giúp những bước đi đầu tiên trên không gian mạng của người già vùng cao trở nên vững chãi hơn.
Sự thích ứng ấy không chỉ dừng lại ở phạm vi một mái nhà. Tại xã Văn Nho, lực lượng công an xã cùng các đoàn thể, tổ công nghệ số cộng đồng đã triển khai giải pháp đưa công nghệ số đến tận tay người dân. Những cán bộ trẻ “đến từng ngõ, gõ cửa từng nhà”, ân cần cầm tay chỉ việc, giúp đỡ những người già neo đơn, người yếu thế cài đặt tài khoản định danh điện tử mức độ 2, số hóa thông tin dân cư và giải quyết các thủ tục hành chính công.
Rời bản làng về với phố thị, không khí “học tập” cũng diễn ra sôi nổi. Thứ Năm hằng tuần, tại nhà văn hóa tổ dân phố Tây Sơn 4 (phường Hạc Thành), bà Nguyễn Thị Hương (bí thư chi bộ - trưởng phố) cùng các thành viên chi hội NCT và Câu lạc bộ liên thế hệ lại quây quần trong lớp học “Bình dân học vụ số”. Bà Hương bộc bạch: “Tổ dân phố có gần 100 hội viên NCT. Ban đầu, để các ông, các bà chịu tiếp cận công nghệ, nhất là việc cài định danh mức độ 2 hay mở tài khoản nhận lương hưu rất vất vả. Nhiều cụ nhất quyết từ chối vì thấy quá phức tạp”. Thế nhưng, bằng sự vận động bền bỉ của tổ công nghệ số cộng đồng cùng sự đồng hành của con cháu, đến nay gần 100% các cụ tại tổ dân phố đã sở hữu tài khoản nhận lương hưu và trợ cấp an sinh xã hội.
Những câu chuyện bình dị từ miền núi đến đô thị chứng minh cho xu thế chuyển dịch tất yếu: NCT đang nỗ lực tiếp cận và thích ứng với công nghệ. Có người tiếp cận công nghệ do hoàn cảnh bắt buộc như để nhận lương hưu, gọi video trò chuyện với con cháu hay làm thủ tục hành chính. Nhưng cũng có một bộ phận NCT chủ động làm chủ thiết bị số vì mục đích sinh kế. Nhiều cụ là bí thư chi bộ, trưởng thôn hay người có uy tín đã tự học công nghệ để phổ biến chính sách, pháp luật và giữ liên lạc với người dân. Một số cụ còn tích cực sử dụng mạng xã hội để quảng bá nông sản quê hương, thanh toán tiện lợi qua ví điện tử hoặc mã QR.

Công an xã Văn Nho hướng dẫn người dân sử dụng ứng dụng VNeID trên điện thoại thông minh.
Tuy nhiên, hành trình tiếp cận công nghệ của các bậc cao niên chưa bao giờ bằng phẳng. Đối với NCT là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, rào cản đầu tiên nằm ở ngôn ngữ khi nhiều cụ chưa thạo tiếng phổ thông, chữ viết chưa vững, trong khi các thuật ngữ tiếng Anh trên ứng dụng như Log in, Update, Scan... thực sự là thách thức lớn.
Kế đến là trở ngại về thể chất: đôi mắt mờ khó đọc chữ nhỏ, ngón tay chai sần vì làm nương rẫy khiến cảm ứng điện thoại kém nhạy. Thêm vào đó, hạ tầng viễn thông ở nhiều bản làng chưa đồng bộ, sóng lúc có lúc không. Thiết bị sử dụng chủ yếu là điện thoại cũ do con cháu nhượng lại nên dung lượng yếu, thường xuyên giật lag.
Đáng lo ngại hơn cả là tâm lý sợ hãi và nguy cơ lừa đảo công nghệ cao. Vì sợ làm hỏng máy, sợ mất tiền tích lũy, nhiều cụ rất e dè. NCT thiếu kiến thức bảo mật thông tin vô tình trở thành “mồi ngon” cho các đối tượng lừa đảo tinh vi trên mạng.
Để phá bỏ những bức tường ngăn cách ấy, sức mạnh của tình làng, nghĩa xóm đã được phát huy: “người này biết sẽ chỉ cho người kia”, tạo nên mạng lưới lan tỏa bằng hình thức truyền miệng hiệu quả. Cùng với đó là sự chung tay sát cánh của thanh niên bản, bộ đội biên phòng, công an xã luôn sẵn lòng “cầm tay chỉ việc”. Đồng thời, các chương trình mục tiêu quốc gia cũng ưu tiên nguồn lực về vùng đồng bào dân tộc thiểu số để nâng cấp hạ tầng viễn thông và thúc đẩy chuyển đổi số.
Mới đây, tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức sơ kết thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và 1 năm triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”. Phong trào này được triển khai sâu rộng với 166 xã, phường thành lập ban chỉ đạo, xây dựng 4.351 tổ công nghệ số cộng đồng với gần 16.000 thành viên. Chiến dịch “Đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người dân kỹ năng số” đã mang lại kết quả đột phá, bảo đảm không một ai, đặc biệt là NCT, bị bỏ lại phía sau.
Hiện nay, cả nước có khoảng 16,1 triệu NCT (chiếm hơn 16% dân số). Riêng tại Thanh Hóa, Hội NCT tỉnh có trên 600.000 hội viên, trong đó, hơn 75% hội viên nòng cốt của hội sử dụng thành thạo điện thoại thông minh cho việc liên lạc, tham gia mạng xã hội và thực hiện các công việc hành chính, an sinh xã hội. Thậm chí, một số cụ còn chủ động tiếp cận và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào đời sống thường nhật.
Hành trình tập làm công dân số của ông bà có thể chậm rãi, còn nhiều lóng ngóng, nhưng mỗi thao tác vuốt chạm đều chứa đựng khát vọng được kết nối sâu sắc với cuộc sống hiện đại và thế giới của con cháu. Sự hòa nhập của các bậc cao niên chính là chiếc gương phản chiếu một xã hội số nhân văn, toàn diện. Xin hãy tiếp tục kiên nhẫn đồng hành và nắm lấy những đôi bàn tay thô ráp ấy trên con đường tiếp cận công nghệ, để không không gian ảo nào có thể làm nguội lạnh đi hơi ấm của tình thân.
Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/khi-ong-ba-tap-lam-cong-dan-so-44113.htm











