Khí phách Huỳnh Thúc Kháng qua tác phẩm 'Thi tù tùng thoại'
Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ 20, Huỳnh Thúc Kháng là một trong những nhà yêu nước tiêu biểu, với các dấu ấn sâu sắc trên tất cả lĩnh vực. Trong số các tác phẩm của ông, Thi tù tùng thoại giữ vị trí đặc biệt, bởi đây vừa là một tập hồi ký - thơ văn về cuộc sống lao tù tại Côn Đảo, vừa là tư liệu lịch sử phản ánh sinh động tinh thần đấu tranh của các chí sĩ yêu nước thời kỳ cận đại.

Bản thảo của cụ Huỳnh dịch sang Việt ngữ tập “Thi tù tùng thoại” năm 1935. Ảnh: Bảo tàng Đà Nẵng lưu giữ.
Được sáng tác trong thời gian bị đày ra Côn Đảo (1908 - 1921), Thi tù tùng thoại không chỉ ghi lại hiện thực khắc nghiệt của chế độ nhà tù thực dân mà còn thể hiện sâu sắc khí phách, bản lĩnh và nhân cách của Huỳnh Thúc Kháng.
Khí phách kiên trung
Sau vụ kháng sưu cự thuế năm 1908, chính quyền thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, bắt bớ những người tham gia biểu tình ở Quảng Nam nhưng vẫn không truy được ai là lãnh đạo phong trào. Lấy cớ Huỳnh Thúc Kháng là người đã hô hào ủng hộ phong trào Duy tân, ông bị bắt giam.
Đầu tháng 2/1908 ông bị giam tại nhà lao Hội An, đến tháng 6/1908 thực dân Pháp chiếu theo điều “mưu loạn vị hành” (âm mưu làm phản nhưng chưa thực hiện) để phải gông xiềng, lưu đày Côn Đảo”.
Ngày 28/8/1908, Huỳnh Thúc Kháng khi đặt chân đến Côn Lôn ông viết: “Bọn chúng tôi đến đảo, vào phòng giấy ngục trưởng (do lính Tây cùng ma tà áp dẫn) nhận áo quần cùng chiếu, lại có thẻ bài bằng gỗ hình vuông giống như thẻ bài ngà chỉ khác là trên ấy ghi số hiệu, khi căn cứ gọi số hiệu thay tên (số bài của tôi hiệu 7.455) dưới khắc hai chữ D.C (chữ viết tắt bằng chữ Pháp “Dangereux Condamné” có nghĩa là tù nguy hiểm, cho ở riêng một phòng, được đôi ngày rồi chia ra ở các phòng cùng với các tù khác làm tạp dịch”.
Trong hoàn cảnh bị xiềng xích, biệt giam và xem là “tù nguy hiểm”, Huỳnh Thúc Kháng không hề tỏ ra bi quan hay khuất phục. Ông xem nhà tù như một nơi thử thách ý chí và rèn luyện tinh thần của một người chiến sĩ yêu nước:
“Xiềng gông cà kệ biệt Đô môn,
Khảng khái ngâm nga lưỡi vẫn còn.
Đất nước đắm chìm nòi giống mỏn,
Thân trai nào sợ cái Côn Lôn”.
Xiềng gông có thể trói buộc thân thể nhưng không thể khuất phục ý chí. Hình ảnh người tù vẫn “khảng khái ngâm nga” cho thấy bản lĩnh kiên cường của một chí sĩ luôn đặt sự tồn vong của dân tộc lên trên số phận cá nhân.
Nếu khí phách được thể hiện qua thái độ không khuất phục trước cường quyền thì bản lĩnh của Huỳnh Thúc Kháng còn được thể hiện ở khả năng vượt lên nghịch cảnh bằng một tinh thần lạc quan đáng khâm phục.
Côn Đảo thời kỳ đầu thế kỷ 20 là nơi giam giữ những tù nhân chính trị với điều kiện sống vô cùng khắc nghiệt. Tuy nhiên, trong Thi tù tùng thoại, người đọc ít bắt gặp sự than vãn hay tuyệt vọng. Trái lại, xuyên suốt tác phẩm là niềm tin vào chính nghĩa và tương lai dân tộc.
“Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết,
Người ở đời đâu khỏi tiết gian nan.
Đấng trượng phu tùy ngộ nhi an,
Tố hoạn nạn hành hồ hoạn nạn”.
Quan niệm “tùy ngộ nhi an” không phải là thái độ cam chịu mà là biểu hiện của bản lĩnh tinh thần. Đối với Huỳnh Thúc Kháng, nghịch cảnh là môi trường thử thách ý chí và rèn luyện nhân cách. Chính tinh thần ấy đã giúp ông và các đồng chí biến nhà tù thành nơi nuôi dưỡng lý tưởng yêu nước, duy trì niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc.
Khí tiết người quân tử
Là một nhà nho xuất thân từ nền giáo dục truyền thống, Huỳnh Thúc Kháng chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho giáo về đạo làm người, về danh dự và trách nhiệm đối với xã hội. Tuy nhiên, điểm đặc sắc ở ông là sự kết hợp giữa khí tiết của người quân tử truyền thống với lý tưởng yêu nước của thời đại mới.
Trong bài Côn Đảo thư hoài, tác giả bộc lộ nỗi nhớ quê hương, nỗi đau trước cảnh nước mất nhưng không chìm trong bi lụy. Nỗi niềm riêng luôn gắn liền với vận mệnh quốc gia. Điều đó cho thấy ý thức trách nhiệm sâu sắc của người trí thức trước thời cuộc.
Một phương diện quan trọng khác làm nên giá trị của Thi tù tùng thoại là việc phản ánh đời sống tinh thần của cộng đồng những người yêu nước tại Côn Đảo. Vượt khỏi giới hạn là câu chuyện của riêng Huỳnh Thúc Kháng, tác phẩm là ký ức chung của một thế hệ chí sĩ.
Thông qua các bài thơ viết về Phan Châu Trinh và nhiều đồng chí khác, tác giả đã khắc họa tình cảm gắn bó, sự cảm thông và tinh thần tương trợ giữa những người cùng chung chí hướng. Trong hoàn cảnh lao tù khắc nghiệt, tình đồng chí trở thành nguồn động viên tinh thần to lớn, giúp họ vượt qua đau khổ và giữ vững niềm tin vào sự nghiệp cứu nước. Qua đó cho thấy Thi tù tùng thoại phản ánh sức mạnh đoàn kết của phong trào yêu nước đầu thế kỷ 20, đồng thời cho thấy khí phách của Huỳnh Thúc Kháng không tách rời khỏi khí phách của cả một thế hệ chiến sĩ cách mạng.
Thi tù tùng thoại không chỉ là một tác phẩm văn học có giá trị tư liệu lịch sử mà còn là bức chân dung tinh thần đặc sắc về Huỳnh Thúc Kháng. Qua tác phẩm, khí phách của ông được thể hiện trên nhiều phương diện: kiên trung trước cường quyền, lạc quan trong nghịch cảnh, giữ vững khí tiết của người quân tử và luôn gắn bó với đồng chí, đồng bào trong sự nghiệp cứu nước.
Những phẩm chất ấy đã làm nên tầm vóc của Huỳnh Thúc Kháng – một nhà yêu nước lớn, một nhân cách tiêu biểu của lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ 20. Đồng thời Thi tù tùng thoại cũng góp phần khẳng định giá trị tinh thần của lớp chí sĩ Duy tân, những người đã lấy ý chí và lòng yêu nước để vượt lên mọi thử thách của lịch sử.










