Kho lạnh chỗ thừa chỗ thiếu và bài toán logistics xuất khẩu nông sản
Xuất khẩu nông – thủy sản tăng mạnh khiến kho lạnh trở thành hạ tầng then chốt. Tuy nhiên, hệ thống kho lạnh Việt Nam đang rơi vào nghịch lý: nơi dư thừa, nơi thiếu hụt, đặc biệt tại vùng nguyên liệu, làm tăng chi phí logistics và giảm sức cạnh tranh xuất khẩu.
Kho lạnh: chỗ thừa, chỗ thiếu
Cùng với đà tăng trưởng mạnh của xuất khẩu nông – thủy sản, hệ thống kho lạnh tại Việt Nam đang trở thành hạ tầng then chốt của chuỗi giá trị. Tuy nhiên, thực tế cho thấy kho lạnh hiện nay rơi vào tình trạng chỗ thừa, chỗ thiếu, vừa chưa theo kịp nhu cầu, vừa phân bố chưa hợp lý so với các vùng sản xuất.

Hệ thống kho lạnh tại Việt Nam đang trở thành hạ tầng then chốt của chuỗi giá trị xuất khẩu
Ở lĩnh vực thủy sản, kim ngạch xuất khẩu năm 2025 vượt 11,3 tỷ USD, mức cao nhất trong lịch sử ngành. Các mặt hàng chủ lực như tôm, cá tra, cá ngừ… ngày càng phụ thuộc vào kho lạnh quy mô lớn để bảo quản, chờ chế biến và điều tiết thị trường.
Theo ông Nguyễn Thanh Tùng – Chủ tịch HĐQT một công ty kho lạnh tại Tây Ninh, logistics và kho lạnh chính là “mắt xích then chốt” giúp doanh nghiệp chủ động trữ hàng, giảm áp lực bán gấp, tiết kiệm chi phí và nâng cao chất lượng xuất khẩu, nhất là khi các thị trường lớn siết chặt tiêu chuẩn kỹ thuật và phát thải carbon.
Ông Tùng cũng thẳng thắng khi cho biết, đơn vị này cũng vừa khánh thành một kho lạnh lớn ở Tây Ninh (Long An cũ). Tuy nhiên, nhìn một cách khách quan số lượng hạ tầng kho lạnh hiện nay lại bộc lộ rõ sự mất cân đối.
“Ở Việt Nam hiện nay, kho lạnh phân bố chưa đồng đều. Nhu cầu thì còn rất lớn, nhưng kho lạnh lại tập trung chủ yếu ở miền Nam, mà trong miền Nam thì lại dồn nhiều về miền Tây, cụ thể là khu vực Tây Ninh, tức Long An cũ. Khu vực này có lợi thế gần cao tốc, gần cảng biển, nên các doanh nghiệp thủy sản ở miền Tây, Đông Nam Bộ hay Tây Nguyên đưa hàng về đây cũng thuận tiện hơn. Vì vậy, kho lạnh tập trung ở đây với số lượng rất lớn.” - Ông Tùng nói.

Khi giải được bài toán “chỗ thừa, chỗ thiếu”, kho lạnh mới thực sự trở thành bệ đỡ cho xuất khẩu nông – thủy sản Việt Nam phát triển bền vững
Thực tế, với chính sách thu hút, các khu vực như Tây Ninh (Long An cũ) đang nổi lên như “điểm tụ” của hệ thống kho lạnh nhờ lợi thế hạ tầng và kết nối cảng biển. Điều này giúp doanh nghiệp thuận lợi trong xuất khẩu, nhưng cũng tạo ra nghịch lý: nơi có kho thì dư công suất cục bộ, nơi có nguyên liệu lại thiếu kho tại chỗ. Hệ quả là thủy sản từ Đồng bằng sông Cửu Long hay Tây Nguyên phải vận chuyển quãng đường dài để trữ lạnh, làm tăng chi phí và rủi ro hao hụt.
Câu chuyện này càng rõ hơn trong ngành rau củ quả. Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit), năm 2025 kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt hơn 8,56 tỷ USD. Đáng chú ý, xuất khẩu sản phẩm đông lạnh tăng mạnh, từ khoảng 120 triệu USD lên gần 600 triệu USD, cho thấy nhu cầu kho lạnh đang tăng rất nhanh cùng với xu hướng chế biến sâu.
Tuy nhiên, sự thiếu hụt kho lạnh tại vùng nguyên liệu vẫn là “nút thắt” lớn: “Ví dụ như hiện nay, hàng rau quả thu hoạch ở Tây Nguyên phải chở xuống các tỉnh xa để làm đông lạnh thì chắc chắn chi phí vận chuyển sẽ cao hơn, tỷ lệ hao hụt cũng nhiều hơn. Vì vậy, quy hoạch kho lạnh cần đặt ngay tại các vùng nguyên liệu, nơi có hạ tầng giao thông và năng lượng tương đối đầy đủ, thì mới giảm chi phí, hạn chế thất thoát và đạt hiệu quả cao nhất.” - Ông Đặng Phúc Nguyên nhận định
Từ thực tế đó, các hiệp hội ngành hàng đều cho rằng bài toán kho lạnh hiện nay không chỉ là thiếu hay thừa, mà là thiếu đúng chỗ và thừa chưa đúng nơi. Kho lạnh cần được quy hoạch gắn với vùng nguyên liệu, đồng bộ với giao thông và năng lượng, thay vì chỉ tập trung quanh các trục logistics lớn. Cùng với đó là chính sách hỗ trợ về vốn, giá điện và khuyến khích đầu tư kho lạnh quy mô phù hợp, hiện đại và xanh hơn. Chỉ khi giải được bài toán “chỗ thừa, chỗ thiếu”, kho lạnh mới thực sự trở thành bệ đỡ cho xuất khẩu nông – thủy sản Việt Nam phát triển bền vững.

Hệ thống kho lạnh tại tỉnh Tây Ninh (Long An cũ)
Kho lạnh và bài toán 100 tỷ USD
Thực tế cho thấy, kho lạnh hiện nay không chỉ thiếu về tổng thể mà còn phân bố chưa hợp lý, khiến chi phí logistics tăng cao và hiệu quả chuỗi cung ứng bị hạn chế.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến, năm 2025, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt hơn 70 tỷ USD, tăng trên 12%, tiếp tục khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế. Tuy vậy, để đạt mục tiêu 100 tỷ USD vào năm 2030, ngành nông nghiệp không thể chỉ dựa vào mở rộng sản lượng, mà phải tập trung nâng cao chất lượng, bảo quản và chế biến sâu, trong đó kho lạnh giữ vai trò then chốt.
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến chỉ rõ, công suất kho lạnh hiện chưa đáp ứng nhu cầu của các ngành hàng xuất khẩu chủ lực như thủy sản, rau quả. Đáng chú ý, kho lạnh lại tập trung chủ yếu ở một số địa bàn có lợi thế về giao thông và cảng biển, dẫn tới tình trạng chỗ thừa, chỗ thiếu. Nhiều vùng nguyên liệu lớn thiếu kho lạnh tại chỗ, buộc doanh nghiệp phải vận chuyển hàng hóa đi xa để bảo quản, làm tăng chi phí và rủi ro hao hụt.
Từ thực tế đó, Thứ trưởng nhấn mạnh cần coi kho lạnh là hạ tầng thiết yếu, tương tự giao thông hay cảng biển. Việc đầu tư kho lạnh phải đặt trong tổng thể quy hoạch vùng nguyên liệu, trung tâm logistics và chuỗi xuất khẩu, tránh phát triển manh mún. Kho lạnh không chỉ bố trí hợp lý mà còn phải đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, phù hợp các tiêu chuẩn quốc tế.

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến (bìa phải) thị sát hệ thống kho lạnh tại Tây Ninh (Long An cũ) cuối tháng 1/2025
“Dự báo, riêng chuyển đổi số đã có thể giúp GDP tăng khoảng 1,25%. Nếu mình làm chuyển đổi số song song với chuyển đổi xanh, đúng theo chuẩn của khu vực và quốc tế, nhất là trong bối cảnh kỷ nguyên mới đòi hỏi sản phẩm phải có chứng chỉ xanh, thì Việt Nam sẽ bắt nhịp rất nhanh với thế giới. Không chỉ theo kịp, mà còn có thể vươn lên nhóm nước đi đầu, tạo ra giá trị kinh tế và giá trị xuất khẩu cao hơn rất nhiều so với hiện nay” - Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nói.
Giải bài toán kho lạnh không chỉ là đầu tư thêm, mà là quy hoạch đúng chỗ, gắn với vùng nguyên liệu, chuyển đổi xanh và số. Khi nút thắt này được tháo gỡ, xuất khẩu nông – thủy sản mới có thể tăng tốc bền vững.











