Khi chính sách quản lý 'đồng tốc' với kinh tế số
Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 123/2020/NĐ-CP về hóa đơn, chứng từ (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 70/2025/NĐ-CP). Bước đi này nhằm cụ thể hóa chủ trương cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia, giảm tải áp lực lên hạ tầng công nghệ thông tin của cả doanh nghiệp và cơ quan thuế.

Nghị định 70 được ban hành tháng 3-2025, có hiệu lực từ ngày 1-6-2025, với mục tiêu tăng minh bạch và chống thất thu ngân sách. Tuy nhiên, quá trình thực thi cho thấy một số vấn đề phát sinh, đặc biệt liên quan đến năng lực hạ tầng công nghệ. Theo số liệu của Bộ Tài chính, trong giai đoạn từ ngày 1-6 đến 30-12-2025, hệ thống đã tiếp nhận hơn 3,7 tỉ hóa đơn điện tử, cùng hơn 2,7 tỉ hóa đơn khởi tạo từ máy tính tiền. Trung bình mỗi tháng phát sinh hơn 925 triệu hóa đơn, tăng gấp đôi so với mức bình quân năm 2024.
Nguyên nhân chủ yếu được xác định là do quy định tại Nghị định 70 bãi bỏ cơ chế hóa đơn tổng, yêu cầu doanh nghiệp phải xuất hóa đơn cho từng giao dịch nhỏ lẻ, kể cả với khách hàng là cá nhân không kinh doanh. Trong khi đó, hệ thống hóa đơn điện tử của cơ quan thuế được thiết kế để xử lý khoảng 6,4 tỉ hóa đơn mỗi năm, nhưng thực tế hiện phải tiếp nhận tới khoảng 18 tỉ hóa đơn, gấp ba lần năng lực thiết kế ban đầu.
Nếu xu hướng tiếp tục, khối lượng hóa đơn có thể lên tới 60 tỉ hóa đơn mỗi năm. Khi hệ thống vận hành thường xuyên vượt quá năng lực thiết kế, rủi ro không chỉ là quá tải kỹ thuật, mà còn có thể ảnh hưởng tới tính ổn định và an toàn của toàn bộ hệ sinh thái dữ liệu thuế.
Bên cạnh đó, một số tổ chức tài chính như ngân hàng, công ty chứng khoán cho biết chưa thể đáp ứng yêu cầu xuất hóa đơn cho từng giao dịch nhỏ lẻ do hạn chế về hạ tầng công nghệ thông tin.
Theo Bộ Tài chính, nhiều hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp phản ánh việc bắt buộc lập hóa đơn cho từng giao dịch với khách hàng cá nhân không kinh doanh làm phát sinh chi phí lớn về nhân lực, lưu trữ dữ liệu và vận hành hệ thống.
Các ngành có tần suất giao dịch lớn như ngân hàng, bảo hiểm, thương mại điện tử, vận tải, điện lực, trông giữ xe, chiếu phim… chịu tác động rõ nhất do mỗi ngày phát sinh hàng triệu giao dịch giá trị nhỏ. Thực tế, phần lớn khách hàng cá nhân không có nhu cầu sử dụng hóa đơn cho mục đích kê khai thuế. Tuy nhiên, mỗi hóa đơn điện tử vẫn là một đơn vị dữ liệu phải xử lý, lưu trữ và bảo mật.
Điều chỉnh chính sách hóa đơn điện tử lần này cho thấy tư duy quản trị đang thay đổi theo thực tiễn vận động của nền kinh tế; đồng thời cũng phản ánh yêu cầu chính sách phải vận hành cùng nhịp với tốc độ của kinh tế số.
Ở góc độ quản trị chi phí xã hội, việc phát sinh khối lượng lớn hóa đơn nhỏ lẻ nhưng không phục vụ nhu cầu sử dụng thực tế đang đặt ra câu hỏi về hiệu quả của mô hình quản lý hiện hành. Trước thực tế này, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung cơ chế lập hóa đơn tổng đối với khách hàng cá nhân không kinh doanh, không có nhu cầu lấy hóa đơn riêng lẻ.
Theo dự thảo, các lĩnh vực có tần suất giao dịch lớn như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, ví điện tử, dịch vụ điện lực, trông giữ xe… nếu có hệ thống phần mềm quản lý chi tiết từng giao dịch thì có thể lập hóa đơn tổng theo ngày hoặc theo tháng.
Đối với vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt, taxi, nếu phần mềm thể hiện đầy đủ thông tin chuyến đi theo quy định, doanh nghiệp cũng được phép lập hóa đơn tổng cuối ngày. Dự thảo cũng quy định rõ trách nhiệm doanh nghiệp phải lưu trữ đầy đủ dữ liệu giao dịch và cung cấp khi cơ quan quản lý yêu cầu. Nếu khách hàng có nhu cầu, doanh nghiệp vẫn phải xuất hóa đơn riêng theo từng giao dịch.
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, việc cho phép lập hóa đơn tổng không làm phát sinh thủ tục hành chính mới mà góp phần đơn giản hóa quy trình hiện có, giảm gánh nặng tuân thủ cho doanh nghiệp.
Hóa đơn tổng không đơn thuần là lựa chọn giữa chi phí tuân thủ và mức độ chi tiết của chứng từ, mà là lựa chọn giữa quản lý chặt hơn trên giấy tờ hay quản lý hiệu quả hơn trên dữ liệu. Nếu buộc xuất hóa đơn cho từng giao dịch nhỏ lẻ, mức độ minh bạch về hình thức chứng từ có thể tăng lên, nhưng chi phí xã hội cũng tăng theo, từ chi phí vận hành hệ thống công nghệ, lưu trữ dữ liệu, đến chi phí nhân sự xử lý. Ngược lại, cơ chế hóa đơn tổng giúp giảm áp lực hạ tầng và chi phí tuân thủ, song chỉ thực sự hiệu quả khi đi kèm yêu cầu lưu trữ đầy đủ dữ liệu giao dịch chi tiết và cơ chế truy xuất minh bạch.
Ở nhiều nền kinh tế phát triển, cơ chế hóa đơn tổng hoặc chứng từ gộp được áp dụng nhưng thường đi kèm yêu cầu quản lý chặt dữ liệu giao dịch phía sau. Ví dụ, tại Liên minh châu Âu (EU), doanh nghiệp được phép lập hóa đơn tổng theo ngày hoặc theo kỳ đối với nhiều giao dịch nhỏ, với điều kiện phải lưu trữ đầy đủ dữ liệu chi tiết và có thể truy xuất khi cơ quan thuế kiểm tra. Tại Singapore và Úc, cơ quan thuế không đặt trọng tâm vào số lượng hóa đơn phát hành mà tập trung vào khả năng truy vết dữ liệu giao dịch trong hệ thống kế toán và hệ thống phần mềm quản trị tổng thể nguồn lực của doanh nghiệp (ERP).
Bối cảnh nước ta hiện nay, áp dụng cơ chế lập hóa đơn tổng là phù hợp khi kinh tế số phát triển rất nhanh, kéo theo số lượng giao dịch điện tử tăng theo cấp số nhân. Nếu tiếp tục quản lý theo hướng yêu cầu chứng từ cho từng giao dịch nhỏ lẻ, áp lực lên hạ tầng công nghệ của doanh nghiệp và cơ quan quản lý sẽ ngày càng lớn, trong khi giá trị gia tăng về mặt quản lý thuế không tương xứng.
Hơn nữa, những năm gần đây nước ta đã có bước tiến đáng kể về hạ tầng dữ liệu, triển khai hóa đơn điện tử diện rộng, kết nối dữ liệu thanh toán, ngân hàng, thương mại điện tử và từng bước xây dựng nền tảng quản lý thuế theo hướng số hóa. Điều này tạo điều kiện để chuyển dần từ quản lý dựa trên chứng từ sang quản lý dựa trên dữ liệu giao dịch, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Điều chỉnh chính sách hóa đơn điện tử lần này cho thấy tư duy quản trị đang thay đổi theo thực tiễn vận động của nền kinh tế; đồng thời cũng phản ánh yêu cầu chính sách phải vận hành cùng nhịp với tốc độ của kinh tế số.
Ở đây, bài toán không còn đơn giản là siết chặt hay nới lỏng quy định, mà là tìm được cơ chế đủ linh hoạt để theo kịp nhịp phát triển công nghệ, trong khi vẫn giữ được kỷ cương thị trường. Khi chính sách vận hành cùng nhịp với sự phát triển của kinh tế số, hiệu quả quản lý nhà nước và động lực tăng trưởng của nền kinh tế sẽ được củng cố bền vững hơn.
Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/khi-chinh-sach-quan-ly-dong-toc-voi-kinh-te-so/











