Kho lạnh cho xuất khẩu nông-thủy sản vẫn nơi thừa, nơi thiếu

Cùng với đà tăng trưởng mạnh mẽ của xuất khẩu nông – thủy sản, kho lạnh đang nổi lên như một cấu phần hạ tầng chiến lược của chuỗi giá trị.

Kho lạnh Kỷ nguyên mới (NECS) tại Tây Ninh với quy mô hiện đại, kết nối thuận lợi cao tốc và cảng biển, góp phần hoàn thiện hạ tầng logistics lạnh cho khu vực phía Nam.

Kho lạnh Kỷ nguyên mới (NECS) tại Tây Ninh với quy mô hiện đại, kết nối thuận lợi cao tốc và cảng biển, góp phần hoàn thiện hạ tầng logistics lạnh cho khu vực phía Nam.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, bức tranh thực tế cho thấy hệ thống kho lạnh tại Việt Nam đang trong tình trạng nơi tập trung dày đặc, nơi vùng nguyên liệu lại khan hiếm. Sự lệch pha này không chỉ làm gia tăng chi phí logistics mà còn đặt ra thách thức lớn đối với mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa tham vọng xuất khẩu 100 tỷ USD vào năm 2030.

“Nút thắt” vùng nguyên liệu

Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Kho lạnh Kỷ nguyên mới (NECS) (Khu Công Nghiệp Phú An Thạnh, xã Bến Lức, tỉnh Tây Ninh cho rằng, logistics và kho lạnh chính là “mắt xích then chốt” giúp doanh nghiệp chủ động trữ hàng, giảm áp lực bán gấp, tiết kiệm chi phí và nâng cao chất lượng xuất khẩu, nhất là trong bối cảnh các thị trường lớn siết chặt tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu về phát thải carbon.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Thanh Tùng cũng thẳng thắn nhìn nhận, hệ thống kho lạnh hiện phân bố chưa đồng đều. Nhu cầu rất lớn, song kho lạnh lại tập trung chủ yếu ở miền Nam, đặc biệt tại khu vực Tây Ninh (Long An cũ) – nơi có lợi thế kết nối cao tốc và cảng biển. Nhờ vị trí thuận lợi, doanh nghiệp thủy sản từ Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ hay Tây Nguyên thường đưa hàng về đây để trữ lạnh, khiến khu vực này trở thành “điểm tụ” của hạ tầng lạnh với số lượng lớn.

Thực tế đó tạo ra nghịch lý: nơi có hạ tầng lại xuất hiện dư công suất cục bộ, trong khi nhiều vùng nguyên liệu lại thiếu kho lạnh tại chỗ. Thủy sản hay rau quả từ Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long phải vận chuyển quãng đường dài để bảo quản, làm tăng chi phí logistics, gia tăng rủi ro hao hụt và phát sinh phát thải trong chuỗi cung ứng.

Câu chuyện mất cân đối hạ tầng lạnh thể hiện rõ trong ngành rau, củ, quả. Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit) cho biết: Nhu cầu kho lạnh đang tăng nhanh cùng với xu hướng chế biến sâu và xuất khẩu sản phẩm đông lạnh.

Tuy nhiên, nhiều vùng nguyên liệu lớn, đặc biệt ở Tây Nguyên, vẫn thiếu kho lạnh tại chỗ. Rau quả sau thu hoạch phải vận chuyển xuống các tỉnh xa để làm đông lạnh, làm tăng chi phí vận chuyển và tỷ lệ hao hụt. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến lợi nhuận doanh nghiệp mà còn làm giảm sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Theo ông Đặng Phúc Nguyên, quy hoạch kho lạnh cần đặt ngay tại các vùng nguyên liệu, nơi có hạ tầng giao thông và năng lượng tương đối đầy đủ, nhằm giảm chi phí, hạn chế thất thoát và đạt hiệu quả cao nhất. Kho lạnh không thể chỉ tập trung quanh các trục logistics lớn hay khu vực gần cảng biển, mà phải gắn chặt với bản đồ sản xuất nông nghiệp.

Đoàn công tác của Bộ nông nghiệp và Môi trường tổ chức khảo sát, đánh giá hiệu quả và khả năng đáp ứng nhu cầu bảo quản, xuất khẩu nông - thủy sản tại Kho lạnh Kỷ nguyên mới (NECS) địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Đoàn công tác của Bộ nông nghiệp và Môi trường tổ chức khảo sát, đánh giá hiệu quả và khả năng đáp ứng nhu cầu bảo quản, xuất khẩu nông - thủy sản tại Kho lạnh Kỷ nguyên mới (NECS) địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Các hiệp hội ngành hàng cũng cho rằng, vấn đề không đơn thuần là thiếu hay thừa tổng công suất, mà là thiếu đúng chỗ và thừa chưa đúng nơi. Nếu không giải quyết được sự lệch pha này, chi phí logistics – vốn đang chiếm tỷ trọng cao trong giá thành xuất khẩu – sẽ tiếp tục là điểm nghẽn.

Hướng đến trung tâm logistics lạnh

Trong bối cảnh tái cơ cấu không gian phát triển, Tây Ninh sau hợp nhất đang định hướng trở thành trung tâm công nghiệp – đô thị – dịch vụ hiện đại của vùng. Theo ông Huỳnh Văn Sơn, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh, sự ra đời và phát triển của các dự án logistics quy mô lớn là minh chứng cho bước chuyển mình đó.

Kho lạnh Kỷ nguyên mới (NECS) trên địa bàn tỉnh được xem là một trong những dự án tiêu biểu. Với hệ thống kho lạnh tự động sức chứa hơn 110.000 pallet, dự án không chỉ là cơ sở lưu trữ hàng hóa hiện đại mà còn thể hiện sự mạnh dạn đầu tư, tiên phong ứng dụng công nghệ và quyết tâm xây dựng hệ sinh thái logistics toàn diện ngay tại Việt Nam.

Ông Huỳnh Văn Sơn nhấn mạnh, đây không chỉ là niềm tự hào của doanh nghiệp mà còn của tỉnh, góp phần khẳng định năng lực cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam. Dự án mở ra cơ hội mạnh mẽ cho xuất khẩu nông, thủy sản – những ngành hàng chủ lực của tỉnh và khu vực kinh tế phía Nam; đồng thời tạo thêm việc làm, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế địa phương và nâng tầm vị thế logistics của Tây Ninh trên bản đồ khu vực.

Ở góc độ chiến lược, tỉnh hướng tới mục tiêu trở thành trung tâm logistics lạnh, kết nối chặt chẽ với mạng lưới kho lạnh và các cảng biển có vị trí chiến lược. Tuy nhiên, bài toán đặt ra không chỉ là thu hút đầu tư, mà còn phải bảo đảm quy hoạch hài hòa, tránh tình trạng phát triển tập trung quá mức ở một số khu vực trong khi các vùng nguyên liệu lại thiếu hạ tầng bảo quản.

Trong chuyến công tác tại tỉnh Tây Ninh vào tháng 1/2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhận định, để đạt mục tiêu 100 tỷ USD vào năm 2030, ngành nông nghiệp không thể chỉ dựa vào mở rộng sản lượng, mà phải tập trung nâng cao chất lượng, bảo quản và chế biến sâu – trong đó kho lạnh giữ vai trò then chốt.

Thứ trưởng Phùng Đức Tiến chỉ rõ, công suất kho lạnh hiện chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của các ngành hàng xuất khẩu chủ lực, đồng thời phân bố chưa hợp lý. Kho lạnh tập trung ở một số địa bàn có lợi thế giao thông và cảng biển, trong khi nhiều vùng nguyên liệu lớn lại thiếu hạ tầng bảo quản tại chỗ. Hệ quả là doanh nghiệp phải vận chuyển hàng hóa đi xa để trữ lạnh, làm tăng chi phí và rủi ro.

Xe nâng và thiết bị tự động vận hành trong kho lạnh, tối ưu hóa quy trình xếp dỡ, lưu trữ hàng hóa, giảm thời gian và chi phí logistics cho doanh nghiệp.

Xe nâng và thiết bị tự động vận hành trong kho lạnh, tối ưu hóa quy trình xếp dỡ, lưu trữ hàng hóa, giảm thời gian và chi phí logistics cho doanh nghiệp.

Từ thực tế đó, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh cần coi kho lạnh là hạ tầng thiết yếu, tương tự giao thông hay cảng biển. Đầu tư kho lạnh phải đặt trong tổng thể quy hoạch vùng nguyên liệu, trung tâm logistics và chuỗi xuất khẩu, tránh phát triển manh mún. Đồng thời, kho lạnh cần đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh và chuyển đổi số, phù hợp các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe.

Theo các chuyên gia, chuyển đổi số có thể đóng góp thêm khoảng 1,25% vào tăng trưởng GDP. Nếu kết hợp đồng bộ chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, đáp ứng các chứng chỉ môi trường và tiêu chuẩn phát thải của thị trường nhập khẩu, Việt Nam không chỉ theo kịp mà còn có thể vươn lên nhóm quốc gia đi đầu trong cung ứng nông sản chất lượng cao.

Bài toán kho lạnh vì vậy không dừng ở việc tăng thêm số lượng, mà là quy hoạch đúng chỗ, gắn với vùng nguyên liệu, đồng bộ với giao thông và năng lượng, khuyến khích đầu tư quy mô phù hợp, công nghệ hiện đại và thân thiện môi trường. Chính sách hỗ trợ về vốn, giá điện cho kho lạnh và cơ chế ưu đãi đầu tư cần được thiết kế theo hướng thúc đẩy phát triển cân đối giữa các vùng.

Bài và ảnh: Minh Phú (TTXVN)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/kinh-te/kho-lanh-cho-xuat-khau-nongthuy-san-van-noi-thua-noi-thieu-20260212114756221.htm