Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo: Trụ cột kiến tạo mô hình tăng trưởng mới
Việt Nam đứng trước đòi hỏi bước ngoặt phải tái cơ cấu mô hình phát triển. Việc lấy khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và quản trị dựa trên dữ liệu làm trụ cột chuyển dịch sẽ là giải pháp cốt lõi để nâng cao năng suất xã hội, tối ưu hóa nguồn lực công và tạo dựng bệ phóng vững chắc cho một nền kinh tế tự chủ, phát triển bền vững.

Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên KHCN, ĐMST và chuyển đổi số là lựa chọn chiến lược mang tính quyết định đối với tương lai phát triển của Việt Nam. Ảnh: ST
Mô hình tăng trưởng truyền thống đã tới hạn
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển mang ý nghĩa lịch sử. Từ một nền kinh tế kém phát triển, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế năng động của thế giới, với quy mô GDP năm 2025 đứng thứ 32 toàn cầu và nằm trong nhóm 15 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới. Thu nhập bình quân đầu người không ngừng được cải thiện, đời sống nhân dân ngày càng nâng cao, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được khẳng định.
Tuy nhiên, theo Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, bước sang giai đoạn phát triển mới, mô hình tăng trưởng hiện nay đang bộc lộ nhiều hạn chế. Tăng trưởng vẫn phụ thuộc đáng kể vào vốn, lao động và khai thác tài nguyên; năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao; năng lực ĐMST và khả năng làm chủ công nghệ còn hạn chế. Trong khi đó, năng lực quản trị quốc gia, quản trị xã hội và quản trị dựa trên dữ liệu chưa theo kịp yêu cầu của nền kinh tế số và xã hội số.
Những thách thức nội tại càng trở nên rõ nét hơn trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến làn sóng chuyển đổi sâu rộng dưới tác động của các công nghệ số mới. Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, internet vạn vật… đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, mô hình kinh doanh và phương thức quản trị ở mọi cấp độ. Năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia ngày càng được quyết định bởi trình độ KHCN, khả năng ĐMST và chất lượng nguồn nhân lực.
Vì vậy, đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên KHCN, ĐMST và chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là lựa chọn chiến lược mang tính quyết định đối với tương lai phát triển của Việt Nam. Đây không đơn thuần là sự điều chỉnh phương thức tăng trưởng mà là quá trình chuyển đổi toàn diện nhằm tạo ra các động lực phát triển mới, nâng cao năng suất lao động, sức cạnh tranh quốc gia và năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Từ góc độ quốc tế, bà Francesca Nardini - Phó Trưởng đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam - đánh giá Việt Nam là một trong những quốc gia đạt thành tựu phát triển ấn tượng trong bốn thập kỷ qua khi vừa duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, vừa giúp hàng triệu người dân thoát nghèo trong thời gian tương đối ngắn.
Tuy nhiên, theo bà Francesca Nardini, mô hình tăng trưởng từng tạo nên bước nhảy vọt cho nền kinh tế Việt Nam đang dần tiệm cận giới hạn. Những động lực truyền thống như xuất khẩu, lao động chi phí thấp, mở rộng vốn đầu tư thông qua FDI hay đầu tư công sẽ khó tiếp tục gánh vác các mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn mới. Việt Nam cần tạo ra nhiều giá trị hơn trên cùng một đơn vị nguồn lực, đồng nghĩa với việc phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ và giá trị gia tăng.
Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đang chủ trì xây dựng Đề án “Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, ĐMST và chuyển đổi số”, dự kiến trình Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Hiến kế cho mô hình tăng trưởng mới
Để hiện thực hóa mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên KHCN, ĐMST và chuyển đổi số, nhiều chuyên gia cho rằng Việt Nam cần đồng thời thực hiện các giải pháp về thể chế, đầu tư cho nghiên cứu - phát triển (R&D) và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Theo GS,TS. Hoàng Văn Cường - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, một trong những yêu cầu quan trọng là xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển số. Điều này đòi hỏi sự chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo; từ điều hành bằng mệnh lệnh hành chính sang quản trị dựa trên thể chế, dữ liệu, tiêu chuẩn và trách nhiệm giải trình; từ phản ứng với thực tiễn sang chủ động dự báo và dẫn dắt sự phát triển.
Trong bối cảnh các công nghệ mới như AI, blockchain, fintech, dữ liệu, công nghiệp bán dẫn… phát triển nhanh chóng, nếu áp dụng phương thức quản lý cứng nhắc và chậm đổi mới, cơ hội phát triển có thể bị bỏ lỡ. Ngược lại, nếu buông lỏng quản lý, các rủi ro liên quan đến độc quyền nền tảng, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân hay bất bình đẳng số sẽ gia tăng.
Vì vậy, theo GS,TS. Hoàng Văn Cường, Việt Nam cần xây dựng cơ chế quản trị linh hoạt thông qua các mô hình thử nghiệm có kiểm soát (sandbox). Đây không chỉ là công cụ hoàn thiện chính sách mà còn là phương thức quản trị mới, cho phép những sáng kiến và công nghệ mới được thử nghiệm trong khuôn khổ an toàn trước khi được áp dụng rộng rãi.
Ở góc độ khác, bà Francesca Nardini cho rằng đầu tư cho R&D là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với năng lực ĐMST quốc gia. Hiện nay, tỷ lệ chi cho R&D của Việt Nam vẫn dưới 1% GDP, thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc hay Hàn Quốc.
Việc Việt Nam đặt mục tiêu nâng tỷ lệ đầu tư cho R&D lên khoảng 2% GDP trong thời gian tới cho thấy nhận thức ngày càng rõ hơn về vai trò của KHCN đối với tăng trưởng dài hạn. Tuy nhiên, theo bà Francesca Nardini, vấn đề không chỉ nằm ở quy mô đầu tư mà còn ở tính liên tục, chiến lược và hiệu quả của dòng vốn đầu tư. Nguồn lực dành cho R&D cần tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên quốc gia thay vì phân tán, dàn trải.
Bổ sung thêm góc nhìn về hệ sinh thái ĐMST, TS. Sacha Samuel Jacques Dray - chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam - cho rằng, việc mở rộng quyền tự chủ cho các cơ sở nghiên cứu khoa học là một giải pháp quan trọng. Hiện trong hơn 640 tổ chức khoa học và công nghệ công lập của Việt Nam, mới chỉ khoảng hai phần ba đơn vị hoạt động theo cơ chế tự chủ. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy quyền tự chủ cao hơn sẽ giúp các viện nghiên cứu sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, tăng tính linh hoạt và nâng cao khả năng chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Bên cạnh thể chế và nguồn lực đầu tư, yếu tố con người tiếp tục giữ vai trò trung tâm của quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Việt Nam có lợi thế lớn về nguồn nhân lực, thể hiện qua nhiều kết quả đánh giá quốc tế, trong đó học sinh Việt Nam thường nằm trong nhóm dẫn đầu khu vực về năng lực toán học.
Tuy nhiên, thách thức đặt ra là làm thế nào để chuyển hóa tiềm năng đó thành năng lực nghiên cứu, ĐMST và làm chủ công nghệ. Điều này đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học và đào tạo nghề phải trở thành trung tâm ĐMST, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số và hội nhập quốc tế.
Hiện thực hóa mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên KHCN, ĐMST và chuyển đổi số sẽ là một hành trình nhiều thách thức. Song, khi các chủ trương được cụ thể hóa bằng những giải pháp đồng bộ và hành động hiệu quả, đây sẽ là chìa khóa để Việt Nam tạo dựng động lực tăng trưởng mới, bứt phá và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số./.










