Tăng trưởng hai con số trước lực cản nguồn điện nền
Tăng trưởng hai con số và an ninh năng lượng đối diện trở lực là các dự án nguồn điện nền tại Trung tâm điện lực Sơn Mỹ và BOT Vĩnh Tân III.
Nút thắt tiến độ và cơ chế
Hai dự án nhiệt điện LNG BOT Sơn Mỹ I và II, tổng công suất khoảng 4.500MW, thuộc trung tâm điện lực Sơn Mỹ, đã được xác định là công trình quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành năng lượng, với định hướng đưa vào vận hành trước năm 2030 theo Quy hoạch điện VIII.
Theo chỉ đạo của Thủ tướng, mốc vận hành hai dự án này được đặt vào năm 2028. Chủ trương đầu tư theo phương thức đối tác công tư đã được Bộ Công Thương phê duyệt lần lượt vào tháng 10/2021 và tháng 9/2022. Tuy nhiên đến nay, dù nhà đầu tư đã tiếp thu và chỉnh sửa Báo cáo nghiên cứu khả thi (FS) theo yêu cầu của cơ quan quản lý, hồ sơ vẫn đang chờ phê duyệt.

Phối cảnh dự án Nhà máy Nhiệt điện Sơn Mỹ II. Ảnh: PECC3
Đáng chú ý, các dự án này không nằm trong danh mục các dự án đảm bảo cấp điện đến năm 2030 theo Chỉ thị 01/CT-TTg của Thủ tướng ngày 18/1/2026, dẫn tới sự thiếu nhất quán giữa yêu cầu tiến độ và cơ chế bảo đảm thực hiện. Trong bối cảnh đó, chính nhà đầu tư cũng thừa nhận khả năng vận hành thực tế của dự án có thể phải lùi sang giai đoạn sau năm 2032.
Một trường hợp khác là dự án nhiệt điện than BOT Vĩnh Tân III, công suất 1.980MW, được xếp vào nhóm các nhà máy nhiệt điện đang gặp khó khăn trong triển khai, với giai đoạn vận hành dự kiến 2025-2030.
Dự án này đã nhiều lần được đưa ra bàn thảo ở cấp cao, với các phương án xử lý bao gồm: tiếp tục triển khai theo quy định hiện hành; chấm dứt theo Quyết định 500/QĐ-TTg; hoặc chấm dứt trong trường hợp nhà đầu tư chủ động dừng dự án.
Đến nay, hướng đi của Vĩnh Tân III vẫn phụ thuộc vào kết quả làm việc giữa Bộ Công Thương và nhà đầu tư liên quan đến thay đổi cơ cấu cổ đông, thu xếp vốn và quyết định cuối cùng của Thủ tướng.
Rủi ro an ninh năng lượng
Việc chậm trễ trong xác định tính khả thi và tiến độ của các dự án nhiệt điện lớn đang tạo ra rủi ro kép.
Một mặt, hệ thống điện quốc gia đứng trước nguy cơ thiếu hụt nguồn điện nền trong giai đoạn cao điểm tăng trưởng, đặc biệt khi các nguồn năng lượng tái tạo phụ thuộc thời tiết chưa thể thay thế hoàn toàn vai trò của nhiệt điện. Mặt khác, địa phương gặp khó trong việc xây dựng các kịch bản phát triển kinh tế – xã hội dài hạn, do thiếu cơ sở chắc chắn về cung ứng điện.

Một góc trung tâm điện lực Vĩnh Tân. Ảnh: EVN.
Theo đánh giá của Sở Công thương Lâm Đồng, nếu các dự án Sơn Mỹ I và II không thể kịp vận hành trước năm 2030, toàn bộ kế hoạch tăng trưởng hai con số của tỉnh sẽ phải điều chỉnh, kéo theo áp lực tìm kiếm các nguồn điện thay thế trong bối cảnh thời gian chuẩn bị đầu tư ngày càng hạn hẹp.
Từ góc độ nhà đầu tư, nút thắt lớn nhất của các dự án BOT điện khí LNG hiện nay nằm ở khung pháp lý và cơ chế tài chính. Theo các nhà đầu tư, pháp luật hiện hành chưa tạo ra một cấu trúc đủ khả thi để tiếp cận nguồn vốn quốc tế, khiến quá trình thẩm định FS và đàm phán các thỏa thuận cốt lõi gần như bị đình trệ.
Những điểm nghẽn chính bao gồm việc thiếu cơ chế bảo lãnh của Chính phủ cho nghĩa vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các doanh nghiệp nhà nước liên quan, trong đó có hợp đồng mua bán điện (PPA) với Tập đoàn Điện lực Việt Nam; cơ chế bảo đảm chuyển đổi ngoại tệ chưa đáp ứng yêu cầu của các tổ chức tín dụng quốc tế; cũng như các vấn đề về bao tiêu sản lượng, chuyển giá khí sang giá điện, bảo lãnh khả năng thanh toán, ưu đãi thuế và luật áp dụng trong các hợp đồng dự án.
Trước thực tế đó, địa phương kiến nghị Bộ Công Thương sớm phê duyệt FS cho các dự án Sơn Mỹ I và II, đồng thời báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét các cơ chế chính sách đặc thù nhằm bảo đảm tính khả thi tài chính.
Trường hợp không thể đáp ứng mốc vận hành trước năm 2030, phương án điều chỉnh tiến độ hoặc tái cơ cấu danh mục nguồn điện – bao gồm điện khí LNG khác, thủy điện tích năng hoặc năng lượng tái tạo tích hợp lưu trữ – cũng được đặt lên bàn cân.
Với Vĩnh Tân III, bài toán chính sách không chỉ nằm ở tiến độ, mà còn là lựa chọn chiến lược giữa việc tiếp tục duy trì nhiệt điện than ở quy mô hợp lý, đi kèm lộ trình kiểm soát môi trường chặt chẽ, hay chuyển đổi sang loại hình nguồn điện khác phù hợp hơn với bối cảnh chuyển dịch năng lượng hiện nay.
Những trở lực tại các dự án Sơn Mỹ và Vĩnh Tân cho thấy an ninh năng lượng đã vượt ra ngoài khung khổ quy hoạch nguồn và công suất, trở thành phép thử đối với năng lực tháo gỡ các nút thắt thể chế và tài chính.
Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng cao đòi hỏi nguồn điện nền ổn định, sự chậm trễ trong các quyết định mang tính then chốt có thể để lại những khoảng trống khó bù đắp cho hệ thống điện trong tương lai gần.
Dự án BOT Sơn Mỹ I (2.250MW, khoảng 48.460 tỷ đồng) do tổ hợp EDF – Sojitz – Kyushu Electric Power – Pacific Group thực hiện. Sơn Mỹ II (khoảng 50.433 tỷ đồng) do AES làm chủ đầu tư, hiện vẫn chờ phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi (FS) sau hơn bốn năm được chấp thuận chủ trương.
Khoảng hai năm trước, Bộ trưởng Bộ công Thương Nguyễn Hồng Diên cho rằng các đề xuất cơ chế của nhà đầu tư các dự án LNG BOT chưa có trong khung pháp lý hiện hành và có thể làm gia tăng rủi ro tài chính cho Nhà nước. Nghị quyết 253 của Quốc hội về phát triển năng lượng giai đoạn 2026–2030 cũng không đề cập tới các cơ chế đặc thù cho nhóm dự án này.
Dự án BOT Vĩnh Tân III (1.980MW) do Công ty CP Năng lượng Vĩnh Tân 3 làm chủ đầu tư, với cơ cấu cổ đông gồm OneEnergy Ventures Limited (49%), Tập đoàn Điện lực Việt Nam (29%) và Tập đoàn Thái Bình Dương, thuộc nhóm các dự án nhiệt điện than chậm tiến độ, gặp khó khăn trong thu xếp vốn và thay đổi cổ đông.











