Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số - động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới

Trong tiến trình chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng, Dự thảo Báo cáo Chính trị và Chương trình Hành động đã xác lập khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, gắn chặt với công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển lực lượng sản xuất.

Dấu mốc đột phá thể chế đến động lực tăng trưởng mới

Xác lập mô hình tăng trưởng mới và thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KH,CN,ĐMST&CĐS) không còn là một lựa chọn mang tính định hướng, mà đã trở thành yêu cầu mang tính quyết định đối với phát triển đất nước trong giai đoạn tới.

Trên nền tảng những thành tựu quan trọng của nhiệm kỳ Đại hội XIII, năm 2025 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy và hành động của toàn hệ thống chính trị, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Lần đầu tiên, KH,CN,ĐMST&CĐS được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển nhanh và bền vững, gắn trực tiếp với yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế.

Năm 2025 là năm đầu tiên toàn ngành Khoa học và Công nghệ triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển KH,CN,ĐMST&CĐS quốc gia dưới sự lãnh đạo trực tiếp, thống nhất ở cấp cao nhất của hệ thống chính trị, với Tổng Bí thư trực tiếp làm Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương. Trên cơ sở đó, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 193/2025/QH15, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 71/NQ-CP, tạo nên chỉnh thể đồng bộ từ chủ trương đến chính sách, khẳng định KH,CN,ĐMST&CĐS là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính của phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Điểm nổi bật nhất của năm 2025 không chỉ nằm ở số lượng chính sách, mà ở sự chuyển biến căn bản trong tư duy xây dựng và hoàn thiện thể chế. Triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, công tác thể chế của ngành khoa học và công nghệ đã chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo, dẫn dắt phát triển. Thể chế không còn chỉ để “quản”, mà để mở đường, tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực xã hội cho đổi mới sáng tạo.

Chỉ trong chưa đầy một năm sau hợp nhất, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tham mưu Chính phủ trình Quốc hội ban hành 10 luật và 1 nghị quyết; đồng thời tham mưu Chính phủ ban hành 23 nghị định, 16 nghị quyết, 41 quyết định và 1 chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ. Bộ cũng ban hành 50 thông tư hướng dẫn thi hành, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, kịp thời đưa các chủ trương lớn vào thực tiễn.

Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương, khối lượng xây dựng thể chế trong năm 2025 là “rất lớn”, thể hiện rõ quyết tâm chính trị và vai trò nòng cốt của Bộ trong việc kiến tạo không gian phát triển mới cho KH,CN,ĐMST&CĐS.

Ngay sau khi hợp nhất, Bộ Khoa học và Công nghệ đã chủ động xây dựng hành lang pháp lý mang tính dẫn dắt, trong đó nổi bật là Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Chuyển đổi số và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ.

Luật Trí tuệ nhân tạo ra đời trong bối cảnh AI không còn là công nghệ đơn lẻ, mà đã trở thành hạ tầng chiến lược, tác động sâu rộng đến quản trị quốc gia, sản xuất, dịch vụ và đời sống xã hội. Luật được xây dựng theo cách tiếp cận hài hòa, lấy con người làm trung tâm, bảo đảm AI được phát triển an toàn, minh bạch, có trách nhiệm, đồng thời gắn với bảo vệ lợi ích quốc gia và quyền lợi công dân.

Luật Chuyển đổi số lần đầu tiên tạo lập khuôn khổ pháp lý thống nhất cho chuyển đổi số quốc gia, kết nối các luật chuyên ngành, bổ sung các nội dung nền tảng như kinh tế số, xã hội số, hạ tầng số và cơ chế điều phối ở tầm quốc gia. Đặc biệt, luật quy định mức chi tối thiểu 1% ngân sách nhà nước hằng năm cho chuyển đổi số, thể hiện cam kết chính sách rõ ràng và dài hạn.

Luật sửa đổi, bổ sung Luật Chuyển giao công nghệ mở rộng khái niệm công nghệ, bao gồm cả tri thức, dữ liệu, thiết kế, mô hình, thuật toán và phần mềm - phản ánh đúng bản chất của tài sản trí tuệ trong nền kinh tế số, đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo nội sinh và phát triển thị trường khoa học - công nghệ minh bạch, chuyên nghiệp.

Năm 2025 cũng ghi dấu bước chuyển quan trọng trong cách thức tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ. Lần đầu tiên, Việt Nam ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược quốc gia, tiếp cận theo hướng lấy bài toán thực tiễn làm xuất phát điểm, từ đó hình thành giải pháp, sản phẩm và công nghệ mới.

Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tiếp tục được củng cố với việc đưa vào vận hành Cổng sáng kiến quốc gia, Hệ thống quản lý trực tuyến các nhiệm vụ KH&CN theo thời gian thực và Sàn giao dịch khoa học và công nghệ quốc gia, tạo cầu nối giữa nghiên cứu - sản xuất -thị trường.

Năm 2025, Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia về Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII); hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo đứng thứ 55/100 toàn cầu, phản ánh những chuyển biến tích cực về chất lượng đổi mới sáng tạo.

Bức tranh chuyển đổi số quốc gia trong năm 2025 có bước chuyển căn bản khi hạ tầng số, dữ liệu số và các nền tảng dùng chung được hình thành tương đối đồng bộ. Chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành phương thức tổ chức và vận hành quan trọng của đất nước, đặc biệt trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

Viễn thông và hạ tầng số tiếp tục bứt phá: phủ sóng 5G trên 90% dân số; tốc độ Internet cố định thuộc nhóm 10 nước đứng đầu thế giới; tỷ lệ triển khai IPv6 đạt trên 67%, xếp thứ 7 toàn cầu. Tổng số chứng thư chữ ký số đạt trên 26 triệu, riêng năm 2025 bằng tổng của 10 năm trước đó.

Công nghiệp công nghệ số khẳng định vai trò là ngành công nghiệp nền tảng với hơn 80.000 doanh nghiệp, trong đó trên 2.000 doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế, từng bước làm chủ thiết kế, nghiên cứu và sản xuất sản phẩm công nghệ chiến lược.

Những kết quả này tạo nền tảng vững chắc để bước sang giai đoạn phát triển mới, nơi KH,CN,ĐMST&CĐS không chỉ hỗ trợ tăng trưởng, mà dẫn dắt mô hình tăng trưởng mới của đất nước.

Những kết quả đạt được trong giai đoạn 2021-2025 khẳng định vai trò ngày càng rõ của KH,CN,ĐMST&CĐS đối với tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Ba đột phá chiến lược cho giai đoạn 2026–2030

Trong tiến trình chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Dự thảo Báo cáo Chính trị và Dự thảo Chương trình Hành động đã thể hiện bước phát triển mới trong tư duy phát triển đất nước. Lần đầu tiên, KH,CN,ĐMST&CĐS không chỉ được xác định là “quốc sách hàng đầu” hay “động lực quan trọng”, mà được đặt vào vị trí động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, gắn trực tiếp với công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển lực lượng sản xuất mới.

Định hướng này xuất phát từ yêu cầu tất yếu của thực tiễn phát triển. Giai đoạn 2021-2025, kinh tế Việt Nam duy trì ổn định vĩ mô, tăng trưởng khá trong bối cảnh thế giới nhiều biến động. GDP bình quân tăng khoảng 6,3%/năm, riêng năm 2025 dự kiến đạt 8,3-8,5%; quy mô GDP vượt 510 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm nước thu nhập trung bình cao.

Chất lượng tăng trưởng có chuyển biến tích cực khi TFP đóng góp khoảng 47%, năng suất lao động tăng bình quân 5,3%/năm. Những kết quả này cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của KH,CN,ĐMST&CĐS trong nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên, Dự thảo Báo cáo cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế: KH&CN chưa thực sự trở thành động lực chủ yếu của công nghiệp hóa; làm chủ công nghệ lõi còn hạn chế; liên kết viện - trường - doanh nghiệp yếu; thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa tương xứng.

Bộ KH&CN trao Giải Bạc cho sản phẩm khoa học và công nghệ Make in Viet Nam năm 2025

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV xác định rõ yêu cầu: xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy KH,CN,ĐMST&CĐS làm động lực chính. Để hiện thực hóa định hướng đó, ba đột phá chiến lược được xác lập. Thứ nhất, đột phá về thể chế, tập trung đổi mới tư duy xây dựng và tổ chức thực thi pháp luật; tháo gỡ các rào cản trong đầu tư, tài chính, tự chủ của tổ chức KH&CN; hoàn thiện khung pháp lý cho kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, tài sản số và thị trường KH&CN.

Thứ hai, đột phá về nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. Trọng tâm là phát triển giáo dục STEAM, năng lực số; xây dựng các đại học thành trung tâm KH&CN&ĐMST quốc gia; đào tạo nhân lực cho các ngành mũi nhọn như AI, bán dẫn, công nghệ số. Thứ ba, đột phá về hạ tầng, với trọng tâm là hạ tầng công nghệ, hạ tầng số, phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng.

Dự thảo Chương trình Hành động Đại hội XIV đã cụ thể hóa rõ các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó nhấn mạnh việc tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết 71/NQ-CP và Kế hoạch số 01-KH/BCĐTW. Mục tiêu đến năm 2030 đầy tham vọng nhưng có cơ sở: kinh tế số đạt khoảng 30% GDP, TFP đóng góp trên 55%, năng suất lao động tăng khoảng 8,5%/năm. Những con số này phản ánh yêu cầu chuyển dịch căn bản sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức và công nghệ.

Trên nền tảng những thành tựu của nhiệm kỳ Đại hội XIII và dấu ấn đột phá năm 2025, Văn kiện và Chương trình Hành động Đại hội XIV đã mở ra không gian phát triển mới cho đất nước. Thách thức lớn nhất không nằm ở định hướng, mà ở năng lực tổ chức thực hiện, để KH,CN,ĐMST&CĐS thực sự trở thành động lực trung tâm, dẫn dắt mô hình tăng trưởng mới và đưa Việt Nam vững bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong kỷ nguyên số.

Doanh nghiệp, nhân tài và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Một điểm nhấn quan trọng của Dự thảo Chương trình Hành động là xác lập vai trò trung tâm của doanh nghiệp trong hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Phát triển kinh tế tư nhân theo hướng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được coi là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, với mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 2 triệu doanh nghiệp hoạt động và triển khai hiệu quả chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn.

Song song với đó là Chiến lược quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài; xây dựng cơ chế liên thông giữa khu vực công và khu vực tư; phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc; xây dựng cơ chế khuyến khích, bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới vì lợi ích chung.

Nguyệt Thương

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/khoa-hoc-cong-nghe-va-chuyen-doi-so-dong-luc-trung-tam-cua-mo-hinh-tang-truong-moi.html