'Khoảng hở' phía sau lớp doanh nghiệp tư nhân dẫn đầu
Thực tiễn tại các quốc gia phát triển cho thấy nền kinh tế chỉ tăng trưởng nhanh và bền vững khi sở hữu lực lượng doanh nghiệp thực sự lớn mạnh. Tuy nhiên, doanh nghiệp quy mô vừa chỉ chiếm 1,5% trong nền kinh tế khiến Việt Nam thiếu lực lượng kế cận cho lớp doanh nghiệp lớn hiện tại.
Nỗi lo thiếu vắng lực lượng doanh nghiệp kế cận
Kinh tế Việt Nam lần lượt tăng trưởng 8,02% và 7,83% trong năm 2025 và quí 1-2026 nhờ đà phục hồi của xuất khẩu, tiêu dùng và đầu tư. Trong đó, hoạt động đầu tư đóng góp không nhỏ với tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội là 4.150.500 tỉ đồng trong năm 2025 (tăng 12,1% so với năm 2024) và 744.700 tỉ đồng trong quí 1-2026 (tăng 10,7% so với cùng kỳ năm 2025).
Xét riêng nhóm doanh nghiệp niêm yết, tổng giá trị đầu tư đạt khoảng 300.000 tỉ đồng trong năm 2025, với hai minh chứng điển hình là Vietjet và Gelex có quy mô đầu tư lần lượt khoảng 31.600 tỉ đồng và 14.700 tỉ đồng.
Rộng hơn, xu hướng mở rộng sản xuất – kinh doanh của khu vực ngoài Nhà nước tạo lực đẩy không nhỏ cho sự tăng trưởng của kinh tế Việt Nam thời gian qua. Thế nhưng, điểm đáng lo là hiệu quả phân bổ và sử dụng vốn thấp - thể hiện qua mức tăng doanh thu của doanh nghiệp trong nước ‘lạc nhịp’ với mức tăng trưởng GDP cao, theo nghiên cứu của FiinGroup.
Cụ thể, tốc độ tăng trưởng doanh thu trung vị của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam (không gồm ngân hàng) thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP thực giai đoạn 2015-2019 và 2019-2024. Đặc biệt, khi tốc độ tăng trưởng GDP thực của Việt Nam dần phục hồi hậu Covid-19 (giai đoạn 2022-2024) thì tốc độ tăng trưởng doanh thu trung vị tăng trưởng âm.

Khi tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp niêm yết 'lạc nhịp' với đà tăng trưởng kinh tế. Nguồn: FiinRatings, S&P Global Ratings
Dẫn chứng thêm một số dữ liệu vĩ mô, ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký VCCI, cho biết khu vực FDI lần lượt đóng góp khoảng 80,1% và hơn 77% kim ngạch xuất khẩu quí 1-2026 và năm 2025, trong khi khu vực kinh tế trong nước lần lượt đóng góp chưa tới 20% và chưa tới 23% trong cùng giai đoạn. Như vậy, sự mất cân đối giữa khu vực FDI và kinh tế trong nước có xu hướng gia tăng dẫn tới thị phần của khu vực tư nhân nội địa đang bị thu hẹp đáng kể.
Theo ông Tuấn, nguyên nhân không chỉ nằm ở quy mô vốn mà còn tới từ tư duy đầu tư và cơ cấu doanh nghiệp trong nền kinh tế. Một trong những điểm yếu lớn là cơ cấu doanh nghiệp hình tam giác bị ‘biến dạng’ - tức có một vài tập đoàn lớn đủ sức dẫn dắt, còn lại là hàng triệu doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh. Trong khi đó, số lượng doanh nghiệp quy mô vừa - tức đơn vị có tổng vốn không quá 100 tỉ đồng, theo quy định tại Nghị định 80/202 - rất ít.
“Doanh nghiệp quy mô vừa là nhóm giữ vai trò nhà cung ứng cấp 1 và 2 cho các chuỗi sản xuất công nghiệp. Nhưng sự thiếu vắng của nhóm này khiến sợi dây kết nối giữa các tập đoàn lớn với khu vực sản xuất nhỏ lẻ trở nên lỏng lẻo”, ông Tuấn nói tại hội thảo "40 năm Đổi mới: Vai trò dẫn dắt của các tập đoàn kinh tế" diễn ra tuần qua.
Đồng quan điểm, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, cho biết tỷ trọng doanh nghiệp quy mô vừa tại Việt Nam tương đương với doanh nghiệp lớn, chỉ 1,5%. Yếu tố này, cùng khoảng thời gian 10-20 năm để một doanh nghiệp nhỏ vươn lên quy mô vừa và lớn khiến nền kinh tế đối mặt với rủi ro thiếu vắng lực lượng ‘doanh nghiệp lớn dự bị’ - tức lực lượng kế cận cho lớp doanh nghiệp lớn hiện nay.
“Tình trạng này duy trì trong thời gian dài sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Bên cạnh đó, quy mô hạn chế cũng ảnh hưởng tới các quyết định đầu tư vào yếu tố công nghệ, quản trị, nghiên cứu và phát triển (R&D), vốn cần nguồn lực lớn”, ông Bình nói và cho rằng doanh nghiệp sẽ tiếp tục đối mặt với tình trạng giảm hiệu quả kinh doanh do sự hạn chế về quy mô sản xuất – kinh doanh.
Trong khi đó, ông Nguyễn Duy Hưng, thành viên HĐQT Tân Hiệp Phát, thừa nhận một trong những khó khăn lớn với doanh nghiệp là phần lớn các thỏa thuận với các đối tác như nông dân trồng trà, đơn vị thu mua nguyên liệu, nhà cung cấp mới chỉ dừng ở hợp đồng kỳ hạn 1 năm hoặc theo từng lô hàng, khiến ban lãnh 1, đạo khó xây dựng kế hoạch dài hạn cho cả chuỗi.
“Nguyên nhân là thị trường còn khó dự báo, trong khi niềm tin giữa các bên chưa đủ mạnh”, ông Hưng giải thích.
Hình thành hệ sinh thái ‘ươm mầm’ doanh nghiệp
Gần đây, khu vực kinh tế tư nhân đã có những nỗ lực nhằm hình thành chuỗi/mạng lưới liên kết theo ngành hoặc hệ sinh thái cung ứng sản phẩm - dịch vụ. Nhưng để doanh nghiệp nhỏ “vươn mình” thành doanh nghiệp vừa và lớn như trường hợp của Trường Hải (THACO) và Hòa Phát trong quá khứ, rất cần môi trường chính sách ổn định để họ có thể dự báo và cam kết dài hạn.
“Cơ quan quản lý cần coi doanh nghiệp là đối tác đồng hành, đồng thời bảo đảm kỷ luật thực thi hợp đồng. Chỉ khi quyền tài sản và kỷ luật hợp đồng được bảo đảm, doanh nghiệp mới có thể xây dựng những chuỗi cung ứng bền vững và đủ sức cạnh tranh quốc tế”, ông Nguyễn Duy Hưng nhấn mạnh.

Quy mô thị trường xe điện Việt Nam đạt tới ngưỡng đủ lớn góp phần giải bài toán đầu ra cho doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ và nhà cung ứng nội địa. Ảnh minh họa: H.T
Bổ sung, ông Đậu Anh Tuấn cho rằng mô hình kinh tế Nhật Bản trong giai đoạn phát triển thần kỳ (1955-1973) là điều Việt Nam có thể tham khảo và áp dụng.
Cụ thể, Chính phủ Nhật Bản đã thành lập một số định chế có vai trò giúp đỡ các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) giải quyết ba vấn đề gồm thiếu nguồn lực, khó tiếp cận vốn vay và không có khả năng thu thập phân tích thông tin. Đồng thời, khuyến khích hình thành các doanh nghiệp lớn trên nền tảng hợp nhất hai hoặc ba công ty khác nhau.
Ngoài ra, mô hình liên kết giữa nhà sản xuất, nhà cung cấp và nhà phân phối (keiretsu dọc) cũng tạo điều kiện để SMEs chuyển giao công nghệ và tri thức quản lý từ doanh nghiệp lớn, qua đó an tâm tích lũy nguồn lực kinh doanh. Vào năm 1973, có tới 59% SMEs trong các ngành chế tạo công nghiệp là thành viên của keiretsu.
Dẫn chứng kinh nghiệm xây dựng chuỗi cung ứng của VinFast, ông Lê Khắc Hiệp, Phó chủ tịch Vingroup, cho biết lựa chọn xây dựng tổ hợp sản xuất tự động hóa cao ngay từ đầu đã giúp doanh nghiệp kiểm soát các công nghệ lõi và tạo cơ hội cho nhiều đơn vị khác tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị sản xuất.
Hơn nữa, quy mô thị trường xe điện Việt Nam đạt tới ngưỡng đủ lớn, với hơn 175.000 xe mang thương hiệu VinFast được được bàn giao trong năm 2025 cũng góp phần giải bài toán đầu ra cho doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ và nhà cung ứng nội địa.
“Khi có đơn hàng ổn định, doanh nghiệp có thể tự tin đầu tư vào máy móc, nâng cấp công nghệ và mở rộng sản xuất. Tại một hội thảo diễn ra cuối năm 2024, một chủ doanh nghiệp nội là đối tác dập thân vỏ, cửa đồng hành cùng VinFast từ 2017 cho biết quy mô tài sản của doanh nghiệp đã tăng tới 12 lần sau 7 năm tham gia chuỗi cung ứng”, ông Hiệp cho biết.
Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/khoang-ho-phia-sau-lop-doanh-nghiep-tu-nhan-dan-dau/











