Khơi mạch sống cho vùng đất ngập nước
Tại Hội thảo 'Phục hồi hệ sinh thái đất ngập nước bền vững' diễn ra vào cuối tháng 3 vừa qua tại Vườn Quốc gia (VQG) Tràm Chim, các chuyên gia mở ra một tư duy mang tính bước ngoặt: Nếu chỉ đóng khung trong 2% diện tích tại các khu bảo tồn, chúng ta sẽ không thể cứu vãn được sự suy kiệt của toàn hệ thống.
Bài toán sinh tồn thực sự nằm ở 98% diện tích ngoài kia, nơi con người đang hằng ngày canh tác, sinh sống và tương tác trực tiếp với thiên nhiên.
PHÁ VỠ RANH GIỚI “ỐC ĐẢO” 2%
Trong ký ức của những người làm công tác bảo tồn, hệ sinh thái đất ngập nước Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) từng là một dải sinh thái đa dạng, từ rừng ngập mặn ven biển đến những đồng cỏ ngập theo mùa mênh mông ở vùng Đồng Tháp Mười.

Cần có giải pháp quyết liệt trong việc bảo tồn 98% diện tích đất ngập nước tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Trần Triết (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh), một thực tế đáng suy ngẫm là hiện nay, các khu bảo tồn chỉ bao phủ khoảng 2% diện tích của toàn vùng ĐBSCL.
Con số 98% còn lại bao gồm: Ruộng lúa, vùng chuyên canh thủy sản và hệ thống sông, rạch chằng chịt chính là không gian sinh thái khổng lồ nhưng lại đang bị bỏ ngỏ.

Các chuyên gia về bảo tồn đa dạng sinh học khuyến cáo chuyển đổi sang canh tác lúa sinh thái, giảm thiểu hóa chất nông nghiệp sẽ là “chìa khóa” để duy trì sức khỏe đất và bảo vệ đa dạng sinh học cho 98% diện tích thực địa nằm ngoài vùng lõi.
Nhiều sinh cảnh quan trọng như: Cửa sông, vùng biển nông hay các bãi bồi ven bờ vẫn chưa có tên trong danh mục bảo vệ chính thức. Đây chính là “khoảng trống” khiến các nỗ lực bảo tồn trở nên manh mún.
Dưới áp lực của thâm canh tăng vụ, lạm dụng hóa chất nông nghiệp và ô nhiễm hữu cơ, chất lượng hệ sinh thái ở “vùng 98%” đang suy giảm với tốc độ báo động.
Việc phục hồi hệ sinh thái không có nghĩa là “hy sinh sản xuất” để lấy môi trường, mà là “sản xuất theo một cách khác”.
Những mô hình sinh kế dựa vào lũ không chỉ giúp trữ cá, trồng sen, mà còn giúp bồi lắng phù sa, cải thiện độ phì nhiêu của đất và tăng đa dạng sinh học ngay trên chính mảnh ruộng của mình.
Khi môi trường khỏe mạnh, khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu của cộng đồng cũng tự khắc được nâng lên.
Tiến sĩ Trần Triết nhấn mạnh: “Chúng ta không thể tiếp tục bảo tồn theo kiểu “bao cấp” trong ranh giới hành chính chật hẹp, mà phải nhìn nhận toàn bộ không gian sinh thái là một thực thể thống nhất, nơi con người là một mắt xích không thể tách rời”.
Đã đến lúc cần thay đổi thuật ngữ từ “bảo tồn” mang tính chất gìn giữ những gì còn lại sang “phục hồi” mang tính chủ động tái thiết. Các tổ chức về bảo tồn quốc tế như WWF và IUCN tại Hội thảo “Phục hồi hệ sinh thái đất ngập nước bền vững” đều đồng thuận rằng: Tương lai của đất ngập nước phụ thuộc vào các giải pháp dựa vào thiên nhiên.
Theo đó, các chuyên gia bảo tồn cho rằng, thay vì dựng hàng rào ngăn cách giữa bảo tồn và phát triển, một số mô hình sản xuất nông nghiệp mới ở các tỉnh đã cho thấy, giải pháp canh tác nông nghiệp thuận thiên đang trỗi dậy và chứng minh về hiệu quả kinh tế cũng như hiệu quả trong bảo vệ môi trường.
Đó là sự trở lại của những cánh đồng lúa mùa nổi, mô hình Luân canh tôm - lúa hay sinh kế mùa lũ. Ở các mô hình đó, nông dân không còn "đối đầu" với quy luật của nước, mà học cách "nương tựa" vào chúng
SỨC SỐNG MỚI NGOÀI VÙNG LÕI
Một trong những tín hiệu vui nhất tại hội thảo cuối tháng 3 vừa qua là sự chuyển dịch từ trách nhiệm của Nhà nước sang sự chủ động của khu vực tư nhân và cộng đồng.

Hệ sinh thái năng kim tại Vườn Quốc gia Tràm Chim được phục hồi mạnh mẽ nhờ các giải pháp phục hồi của Vườn Quốc gia Tràm Chim cùng các chuyên gia.
Tại Khu bảo tồn Láng Sen, tỉnh Tây Ninh, nhiều dự án đã minh chứng rằng, khi doanh nghiệp cùng vào cuộc, chuỗi giá trị từ đất ngập nước mới thực sự bền vững.
Nhắc đến Đồng Tháp, không thể không nói đến VQG Tràm Chim, trái tim của vùng Đồng Tháp Mười.

Trồng sen mùa lũ, một trong những giải pháp dựa vào thiên nhiên hiệu quả giúp trữ nước, bồi lắng phù sa và tái tạo nguồn lợi thủy sản tự nhiên.
Câu chuyện tại VQG Tràm Chim những năm gần đây là minh chứng sống động nhất cho tư duy bảo tồn mới. Đã từng có giai đoạn, tại VQG Tràm Chim, việc quản lý thủy văn không phù hợp đã biến khu vực này thành một “hồ nước tĩnh”, làm suy giảm nghiêm trọng hệ sinh thái đồng cỏ đặc trưng và đẩy sếu đầu đỏ rời xa.
Các sản phẩm từ sen, lúa mùa nổi hay các mặt hàng thủ công từ tài nguyên bản địa không chỉ mang lại thu nhập ổn định (dao động từ 24 - 53 triệu đồng/ha/vụ), mà còn tạo ra niềm tự hào cho người dân xứ sở.
Sự tham gia của doanh nghiệp đóng vai trò là “đầu ra” cho nông sản sinh thái, tạo thành cơ chế “win-win” (cùng có lợi).
Người dân sẽ giữ đất, giữ nước để sản xuất bền vững, còn doanh nghiệp có nguyên liệu sạch và thiên nhiên có cơ hội được hồi sinh.
Nhưng những năm gần đây, tỉnh Đồng Tháp có những giải pháp quyết liệt trong bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái tại VQG Tràm Chim, hệ sinh thái đất ngập nước đặc hữu ở khu vực này có sự phục hồi mạnh mẽ.
Việc điều tiết chế độ ngập - khô theo mùa, thực hiện giải pháp đốt cỏ để tái tạo sinh cảnh lúa ma, năng kim giúp chim nước quay lại, thảm thực vật phục hồi rõ rệt.
Quan trọng hơn, tinh thần bảo tồn vượt ra ngoài ranh giới vùng lõi của VQG Tràm Chim. Các mô hình “Lúa - Sếu” ở khu vực vùng đệm, nơi nông dân canh tác lúa sinh thái, giảm hóa chất để tạo môi trường cho sếu và chim nước kiếm ăn, chính là chìa khóa.
Ông Lý Văn Lợi (Trường Đại học Cần Thơ) chia sẻ, mô hình trữ cá mùa lũ ở vùng đệm VQG Tràm Chim không chỉ thu về hơn 100 triệu đồng/vụ, mà còn biến mỗi thửa ruộng thành một “vùng đệm xanh” che chở cho VQG.

Phát triển nuôi trồng thủy sản theo tiêu chuẩn an toàn sinh học là mắt xích quan trọng trong chiến lược phục hồi hệ sinh thái đất ngập nước bền vững, giảm áp lực khai thác quá mức lên tài nguyên thiên nhiên tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Khép lại hội thảo, thông điệp xuyên suốt được các chuyên gia gửi gắm, phục hồi hệ sinh thái đất ngập nước không phải là việc riêng của cán bộ kiểm lâm hay nhà khoa học, mà là câu chuyện về sự chung tay của cả cộng đồng mà nơi đó, mỗi chủ thể đều đóng vài trò quan trọng.
Trong đó, Nhà nước cần có những chính sách linh hoạt hơn để khuyến khích nông nghiệp tái sinh. Doanh nghiệp cần đầu tư vào những giá trị xanh bền vững thay vì lợi nhuận ngắn hạn. Người dân cần thay đổi thói quen canh tác, xem đất ngập nước là “tài sản” thay vì là “đối tượng” để khai thác cạn kiệt.
Bảo tồn 2% diện tích vùng lõi là cần thiết, nhưng cứu được 98% diện tích bên ngoài mới là cách bảo vệ bền vững cho tương lai cho cả vùng ĐBSCL.
Từ câu chuyện “2%” đến “98%”, có thể thấy rằng, bảo tồn bền vững vùng đất ngập nước ĐBSCL không chỉ là bảo tồn những “ốc đảo sinh thái” lẻ loi, mà là một không gian sống hài hòa, nơi mỗi con kinh, mỗi cánh đồng sen hay mỗi ruộng lúa nổi đều là một mảnh ghép của hệ sinh thái đất ngập nước.
Nguồn Đồng Tháp: https://baodongthap.vn/khoi-mach-song-cho-vung-dat-ngap-nuoc-a239219.html











