Khơi thông động lực tăng trưởng để nền kinh tế bứt phá

Những biến động khó lường của kinh tế thế giới đang tạo ra không ít sức ép đối với nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026. Trong bối cảnh đó, việc khơi thông các động lực tăng trưởng từ nội lực, từ phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước đến đẩy mạnh đầu tư công…, đóng vai trò quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế.

Quang cảnh Diễn đàn Đầu tư Việt Nam 2026. Ảnh: VietnamBiz

Quang cảnh Diễn đàn Đầu tư Việt Nam 2026. Ảnh: VietnamBiz

Sức ép lớn trước những biến động toàn cầu

Tại Diễn đàn Đầu tư Việt Nam 2026 do Trang thông tin điện tử VietnamBiz phối hợp với một số đơn vị tổ chức chiều 11/6, các chuyên gia cho biết, nửa đầu năm 2026 chứng kiến hàng loạt biến động lớn của kinh tế toàn cầu. Xung đột tại Trung Đông làm gián đoạn nguồn cung dầu mỏ, đẩy giá năng lượng tăng mạnh và kéo theo những tác động lan tỏa tới khí hóa lỏng, phân bón, hóa dầu cũng như chuỗi logistics quốc tế... Trong khi đó, lạm phát tại Mỹ và châu Âu chưa giảm như kỳ vọng khiến khả năng nới lỏng chính sách tiền tệ tiếp tục bị trì hoãn. Cùng với đó, những diễn biến mới trong chính sách thương mại của Mỹ đang làm gia tăng mức độ bất định đối với hoạt động xuất khẩu của nhiều nền kinh tế, trong đó có Việt Nam.

Theo ông Nguyễn Xuân Thành - Giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, các cú sốc bên ngoài đang làm thay đổi đáng kể kỳ vọng về lộ trình điều chỉnh lãi suất điều hành của các nền kinh tế lớn trên thế giới, đặc biệt là Mỹ. Thị trường hiện không chỉ tính đến khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục duy trì lãi suất cao mà thậm chí còn để ngỏ khả năng tăng lãi suất nếu áp lực lạm phát kéo dài.

Trong bối cảnh đó, thách thức lớn nhất đối với Việt Nam không chỉ ở duy trì tăng trưởng kinh tế mà còn là áp lực lên dòng vốn đầu tư quốc tế, đặc biệt là dòng vốn trên thị trường chứng khoán. Từ đầu năm đến nay, nhiều nền kinh tế trong khu vực như Hàn Quốc, Indonesia đã chịu ảnh hưởng đáng kể từ môi trường lãi suất toàn cầu duy trì ở mức cao: đồng nội tệ mất giá trong khi dòng vốn ngoại liên tục rút khỏi các thị trường tài chính. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn nằm trong nhóm quốc gia duy trì được sự ổn định tương đối về tỷ giá.

Theo ông Nguyễn Xuân Thành, lựa chọn chính sách hiện nay của Việt Nam là chấp nhận mặt bằng lãi suất ở mức tương đối cao nhằm bảo đảm ổn định tỷ giá và kiểm soát các rủi ro vĩ mô. Đây là giải pháp không dễ dàng nhưng cần thiết trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ không còn quá rộng.

Bên cạnh những thách thức về tiền tệ, môi trường thương mại quốc tế cũng đang tiềm ẩn nhiều rủi ro mới. Đáng chú ý, Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) đang chuẩn bị các cơ sở pháp lý mới để tiếp tục áp dụng mức thuế nhập khẩu cao đối với nhiều nền kinh tế sau khi mức thuế 10% hiện nay sẽ hết liệu lực vào tháng 7/2026.

Ông Nguyễn Xuân Thành cho rằng việc áp dụng mức thuế phổ thông từ 10 - 12,5% có thể không tạo ra cú sốc quá lớn đối với Việt Nam. Tuy nhiên, nguy cơ đáng quan ngại hơn đến từ các cuộc điều tra theo Điều khoản 301 liên quan tới vấn đề sở hữu trí tuệ. Nếu các biện pháp thuế quan được áp dụng ở mức cao như tiền lệ đối với Trung Quốc, một số ngành xuất khẩu của Việt Nam có thể chịu tác động đáng kể.

Dù vậy, theo đánh giá của chuyên gia, sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam hiện đã được cải thiện đáng kể so với trước đây. Khả năng đàm phán, giải trình và những điều chỉnh chính sách phù hợp có thể giúp giảm thiểu các tác động tiêu cực. Quan trọng hơn, những biến động bên ngoài đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải củng cố các nền tảng nội tại để nâng cao khả năng thích ứng của nền kinh tế.

Các chuyên gia trao đổi tại Diễn đàn. Ảnh: VietnamBiz

Các chuyên gia trao đổi tại Diễn đàn. Ảnh: VietnamBiz

Thúc đẩy động lực tăng trưởng từ nội tại

Theo các chuyên gia, nếu những cú sốc bên ngoài tạo ra áp lực ngắn hạn thì các động lực nội tại sẽ quyết định khả năng tăng trưởng bền vững của Việt Nam trong những năm tới. Từ thực tiễn những tháng đầu năm 2026, nhiều tín hiệu tích cực đang xuất hiện, song đi kèm với đó là không ít vấn đề cần được giải quyết một cách căn cơ.

Một trong những vấn đề được các chuyên gia đặc biệt quan tâm là tình trạng nhập siêu gia tăng trong khi khu vực FDI tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong xuất khẩu. Theo TS. Phan Đức Hiếu - Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, xu hướng suy giảm thặng dư thương mại thực tế đã xuất hiện từ giai đoạn 2024 - 2025 và không phải là hiện tượng bất thường của riêng năm nay.

Theo ông, điều quan trọng không phải chỉ là xử lý tình trạng nhập siêu trong ngắn hạn mà cần xây dựng một chiến lược xuất nhập khẩu toàn diện cho giai đoạn mới. Trọng tâm của chiến lược này là hình thành các chuỗi giá trị mang thương hiệu Việt Nam, phát triển những doanh nghiệp đầu tàu đủ năng lực dẫn dắt hoạt động xuất khẩu và từng bước giảm sự phụ thuộc vào khu vực FDI.

Chia sẻ thêm về vấn đề nhập siêu, ông Nguyễn Duy Linh - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) nhận định có hai nguyên nhân chính. Một là giá nhập khẩu tăng lên, hai là tâm lý lo ngại đứt gãy chuỗi cung ứng do chiến tranh khiến doanh nghiệp chủ động nhập khẩu nguyên vật liệu nhiều hơn. Chuyên gia cũng lạc quan nhìn nhận lượng hàng nhập khẩu trong hai quý đầu năm sẽ chuyển hóa thành năng lượng sản xuất cho quý III và quý IV nên đây có thể xem là một yếu tố tích cực.

Về thu hút dòng vốn FDI, ông Linh cho rằng bức tranh FDI hiện vẫn mang nhiều gam màu sáng. Trong 5 tháng đầu năm, vốn FDI đăng ký tăng trưởng mạnh, tăng 10% so với cùng kỳ - mức cao nhất trong 5 năm qua, trong đó phần lớn (83% lượng vốn) tập trung vào lĩnh vực chế biến, chế tạo. Điều này cho thấy Việt Nam vẫn giữ vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, thách thức lớn nhất không nằm ở khả năng thu hút vốn mà là năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế. Theo ông Nguyễn Duy Linh, mức độ lan tỏa của FDI hiện còn hạn chế do doanh nghiệp trong nước chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị. Vì vậy, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy đổi mới công nghệ cần được xem là những ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn tới.

Cùng với FDI, các chuyên gia đánh giá, đầu tư công tiếp tục được kỳ vọng là động lực tăng trưởng quan trọng. Dù tỷ lệ giải ngân những tháng đầu năm chưa đạt như mong muốn (đạt 21,6% kế hoạch năm), song quy mô giải ngân tuyệt đối vẫn tăng mạnh so với cùng kỳ (tăng 18,9%). Trong bối cảnh nhập siêu lớn, phần đóng góp vào tăng trưởng GDP 7,8% hiện nay có vai trò đáng kể từ mức tăng tuyệt đối của đầu tư công.

Dù vậy, với tốc độ giải ngân hiện nay, TS. Phan Đức Hiếu cho rằng mục tiêu giải ngân 100% vốn đầu tư công là rất thách thức, bởi mỗi dự án đều gặp những khó khăn khác nhau, từ giải phóng mặt bằng đến nguồn vật liệu san lấp và biến động giá nguyên vật liệu xây dựng. Theo ông, cần sớm tháo gỡ các nút thắt về nguồn cung vật liệu và có cơ chế chia sẻ hợp lý phần chi phí tăng thêm cho các nhà đầu tư để đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Xuân Thành chia sẻ, năm nay, mục tiêu giải ngân 100% rất thách thức vì quy mô đầu tư công hơn 1 triệu tỷ đồng. Do đó, nếu giải ngân được khoảng 95% kế hoạch vốn đầu tư công thì đây vẫn sẽ là một kết quả rất tích cực, tạo cú hích đáng kể cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, ông Thành lưu ý, một vấn đề lớn cần quan tâm là câu chuyện vượt dự toán. Các nhà thầu đều yêu cầu điều chỉnh chi phí đầu tư, tổng mức đầu tư do chi phí vật liệu xây dựng, mua sắm máy móc thiết bị tăng. Vì vậy, sự chủ động, linh hoạt của các bộ, ngành, địa phương rất quan trọng, nhằm phân cấp cho chủ đầu tư để không phải chờ đợi, có thể điều chỉnh và cân đối lại nguồn vốn.

Đặc biệt, theo ông Thành, cũng cần nhất quán với chủ trương dự án nào đang trì trệ, khó khăn thì điều chuyển vốn sang dự án khác có khả năng triển khai tốt hơn. Điều này cũng tạo tiền lệ tốt trong bối cảnh phải điều chỉnh tăng vốn. “Trong bối cảnh thế giới nhiều bất ổn, đầu tư công vẫn là một trong những công cụ chính sách ổn định và hiệu quả nhất mà Việt Nam có thể chủ động kiểm soát” - ông Thành nhấn mạnh.

Ở góc độ tiền tệ, các chuyên gia cho rằng dư địa điều hành đang ngày càng thu hẹp khi cơ quan quản lý phải đồng thời thực hiện nhiều mục tiêu như thúc đẩy tăng trưởng tín dụng để hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính. Theo các chuyên gia, trong điều kiện cung tiền được kiểm soát chặt chẽ, khả năng giảm sâu lãi suất là không lớn. Việt Nam có thể phải chấp nhận một mức điều chỉnh nhất định của tỷ giá để duy trì sự cân bằng giữa các mục tiêu vĩ mô.

Nhìn tổng thể, các chuyên gia đánh giá, với những diễn biến trong nửa đầu năm cho thấy, năm 2026 nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức để đạt được mức tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh nhiều sức ép, việc khơi thông những động lực tăng trưởng từ nội tại như phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy đầu tư công… càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Khi các động lực bên trong được khơi thông đúng hướng, nền kinh tế không chỉ tăng cường khả năng chống chịu trước các cú sốc từ bên ngoài mà còn tạo dựng nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững./.

DIỆU THIỆN

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/bai-viet/khoi-thong-dong-luc-tang-truong-de-nen-kinh-te-but-pha-