Không chỉ rượu bia, đây là nguyên nhân phổ biến gây viêm gan, xơ gan
Không ít người cho rằng chỉ người uống nhiều rượu bia mới mắc viêm gan. Tuy nhiên, virus mới là nguyên nhân phổ biến nhất gây viêm gan trên toàn cầu.
Theo thông tin từ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP.HCM (dựa trên dữ liệu của Tổ chức Y tế Thế giới và Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ), virus là nguyên nhân chính dẫn đến viêm gan.
Ước tính trên toàn cầu có khoảng 240 triệu người mắc viêm gan B và 47 triệu người nhiễm viêm gan C. Mỗi năm, bệnh lý này ghi nhận khoảng 1,3 triệu ca không qua khỏi, phần lớn xuất phát từ biến chứng xơ gan và ung thư gan.
Tại Việt Nam, Bộ Y tế ước tính có khoảng 6,5 triệu người nhiễm viêm gan B và gần 1 triệu người nhiễm viêm gan C. Phần lớn người bệnh không có triệu chứng rõ ràng trong giai đoạn đầu, khiến việc phát hiện thường chậm trễ và làm tăng nguy cơ xơ gan, ung thư gan.
Viêm gan do virus - nguyên nhân phổ biến nhất
Theo CDC, nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến viêm gan xuất phát từ các loại virus, bao gồm 5 chủng chính được ký hiệu là A, B, C, D và E. Cả 5 chủng virus đều có thể gây viêm gan nhưng khác nhau về đường lây truyền, diễn tiến bệnh và mức độ nguy hiểm.
Viêm gan A và E thường gây bệnh cấp tính, đa số người bệnh có thể hồi phục hoàn toàn sau vài tuần đến vài tháng và ít để lại tổn thương gan lâu dài. Trong khi đó, viêm gan B và C có nguy cơ chuyển sang mạn tính, âm thầm gây tổn thương gan trong nhiều năm trước khi dẫn đến xơ gan hoặc ung thư gan nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Trong 5 chủng virus gây viêm gan, viêm gan A và E chủ yếu lây truyền qua đường tiêu hóa khi ăn thực phẩm hoặc sử dụng nguồn nước bị nhiễm virus. Trong khi đó, viêm gan B, C và D chủ yếu lây qua đường máu, quan hệ tình dục không an toàn hoặc dùng chung kim tiêm.
Đặc biệt, viêm gan B có thể truyền từ mẹ sang con trong giai đoạn chu sinh. Trong khi viêm gan D chỉ gây bệnh ở người đang nhiễm viêm gan B hoặc đồng nhiễm với virus này, làm tăng tốc độ tổn thương gan.
Viêm gan do hóa chất, thuốc và độc tố
Gan là cơ quan nội tạng lớn nhất, giúp chuyển hóa và khử độc các chất đưa vào cơ thể. Việc lạm dụng hoặc gặp phản ứng bất lợi với một số loại thuốc điều trị, thảo dược không rõ nguồn gốc hoặc tiếp xúc với các hóa chất độc hại trong môi trường sống đều có thể dẫn đến tổn thương gan.
Khi lượng hóa chất vượt quá khả năng tự giải độc của gan, các tế bào gan sẽ bị hủy hoại và xảy ra phản ứng viêm.

Bệnh nhân điều trị ung thư gan tại Bệnh viên Bệnh Nhiệt đới Trung ương. Ảnh: Đinh Hà.
Bệnh viêm gan tự miễn và các nhiễm trùng khác
Viêm gan tự miễn là bệnh lý xảy ra khi hệ thống miễn dịch của cơ thể bị rối loạn, thay vì bảo vệ cơ thể lại quay sang nhận diện nhầm và tấn công trực tiếp vào các tế bào gan. Tình trạng này gây nên hiện tượng viêm gan mạn tính kéo dài mà hoàn toàn không liên quan đến lối sống hay thói quen sử dụng thức uống có cồn của bệnh nhân.
Bên cạnh đó, một số tình trạng nhiễm trùng toàn thân do các loại virus hoặc vi khuẩn khác gây ra cũng có thể dẫn đến biến chứng viêm gan thứ phát.
Biến chứng nguy hiểm và cách phòng ngừa
Dù xuất phát từ nguyên nhân nào, viêm gan nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời đều có thể tiến triển thành xơ gan, suy gan hoặc ung thư gan. Khi tình trạng viêm kéo dài, các tế bào gan dần bị thay thế bởi mô sẹo, làm suy giảm chức năng gan và tăng nguy cơ mắc ung thư gan. Trong đó, viêm gan B và C là những nguyên nhân hàng đầu gây ung thư gan trên thế giới.
Hiện nay có vaccine phòng viêm gan A và B, trong khi chưa có vaccine phòng viêm gan C. WHO khuyến cáo trẻ sơ sinh nên được tiêm liều vaccine viêm gan B trong vòng 24 giờ đầu sau sinh để giảm nguy cơ lây truyền từ mẹ sang con và bảo vệ trẻ khỏi nguy cơ nhiễm bệnh mạn tính về sau.
Đối với người trưởng thành, việc tiêm vaccine, không dùng chung kim tiêm, quan hệ tình dục an toàn, ăn chín uống chín và hạn chế sử dụng thuốc, thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc là những biện pháp quan trọng giúp bảo vệ lá gan.
Bên cạnh đó, những người thuộc nhóm nguy cơ cao hoặc có tiền sử phơi nhiễm nên chủ động xét nghiệm, sàng lọc viêm gan B và C định kỳ. Việc phát hiện bệnh từ sớm giúp điều trị kịp thời giúp giảm nguy cơ tiến triển thành xơ gan, ung thư gan.











