Không nên ưu đãi dự án chỉ vì mang tên khu công nghiệp xanh
Việt Nam thường đặt câu hỏi tìm vốn ở đâu để xây khu công nghiệp xanh. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa thực sự phù hợp. Việc cần làm là thiết kế một hệ thống tài chính để khu công nghiệp xanh tự huy động vốn, tạo dòng tiền và duy trì lợi ích môi trường lâu dài. Muốn vậy, tiền hỗ trợ phải được phân bổ dựa trên kết quả đo lường được, chứ không chỉ dựa vào tên gọi của dự án.
Đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống đạt trên 856.000 tỷ đồng, tăng 9,87% so với cuối năm 2025. Trong giai đoạn 2017 - 2025, tín dụng xanh tăng bình quân trên 20% mỗi năm.
Tuy nhiên, dư nợ tín dụng xanh mới chiếm khoảng 4% tổng dư nợ nền kinh tế. Xét về cơ cấu, hai nhóm chiếm tỷ trọng lớn nhất là nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học với trên 31%, tiếp đến là năng lượng xanh với gần 28%. Hạ tầng khu công nghiệp chưa nằm trong những nhóm dẫn đầu.
Khoảng trống này không hẳn xuất phát từ việc ngân hàng thiếu quan tâm. Phần lớn các hạng mục cần thiết cho khu công nghiệp xanh, như xử lý và tái sử dụng nước, hạ tầng môi trường dùng chung hay hệ thống tiết kiệm năng lượng, đều có thời gian hoàn vốn dài. Lợi ích của những công trình này được chia sẻ giữa nhiều bên, trong đó có những lợi ích công cộng khó quy đổi thành giá trị tài chính để ngân hàng thẩm định khoản vay.

Khu công nghiệp xanh cần vốn thực chất, không phải ưu đãi theo tên gọi
Vì vậy, nhiều dự án chưa đủ hấp dẫn để tiếp cận tín dụng thương mại, trong khi cũng chưa có cơ chế tài trợ riêng phù hợp.
Để giải quyết vấn đề này, cần tập trung vào năm nhóm giải pháp, xây dựng bộ tiêu chí thẩm định riêng và thử nghiệm ba mô hình huy động vốn theo lộ trình có đánh giá, kiểm chứng.
Hỗ trợ theo kết quả thay vì theo tên gọi
Nguyên tắc đầu tiên là không nên ưu đãi một dự án chỉ vì nó mang tên khu công nghiệp xanh.
Điều cần xác định là dự án tạo ra lợi ích gì ngoài những yêu cầu bắt buộc của pháp luật, chẳng hạn giảm phát thải, tiết kiệm nước, tái sử dụng chất thải hoặc phát triển hạ tầng dùng chung.
Nhà nước có thể hỗ trợ có điều kiện đối với phần đầu tư mang lại lợi ích công cộng. Tuy nhiên, mức hỗ trợ phải gắn với kết quả được xác minh, có giới hạn ngân sách và thời hạn cụ thể.
Thứ hai, cần phát triển các nguồn vốn dài hạn. Những khu công nghiệp đáp ứng điều kiện phải có cơ hội tiếp cận tín dụng xanh, trái phiếu xanh, các khoản vay gắn với chỉ tiêu bền vững và nguồn vốn từ các định chế tài chính phát triển.
Điểm quan trọng là kỳ hạn trả nợ phải phù hợp với thời gian tạo dòng tiền của từng loại hạ tầng. Một công trình môi trường có vòng đời hai mươi năm nhưng phải hoàn trả khoản vay trong năm năm sẽ rất khó bảo đảm hiệu quả tài chính.
Thứ ba, cần xây dựng cơ chế bảo lãnh và chia sẻ rủi ro. Với những dự án có lợi ích môi trường rõ ràng nhưng khó tiếp cận tín dụng, có thể nghiên cứu bảo lãnh một phần khoản vay, hỗ trợ chuẩn bị dự án hoặc chia sẻ rủi ro công nghệ.
Dù vậy, ngân hàng và nhà đầu tư vẫn phải chịu trách nhiệm đối với phần rủi ro thuộc về mình.
Thứ tư, cần hoàn thiện cơ chế giá và hợp đồng dịch vụ xanh. Các dự án xử lý nước, tái sử dụng nước, năng lượng sạch, tiết kiệm năng lượng và xử lý chất thải cần có hợp đồng dài hạn, giá dịch vụ minh bạch và cơ chế phân chia rủi ro hợp lý.
Đây là điều kiện quan trọng để chuyển những lợi ích môi trường thành nguồn thu có thể dự báo, qua đó tạo cơ sở cho ngân hàng xem xét tài trợ vốn.
Thứ năm, cần đơn giản hóa và liên thông thủ tục. Các cơ quan phụ trách đầu tư, môi trường, đất đai, năng lượng và tài chính phải có quy trình phối hợp rõ ràng, tránh tình trạng doanh nghiệp phải thực hiện nhiều thủ tục riêng lẻ, kéo dài thời gian chuẩn bị dự án và làm tăng chi phí vốn.
Bên cạnh năm nhóm giải pháp trên, mỗi dự án cần được đánh giá theo ba nhóm tiêu chí độc lập nhưng có liên hệ với nhau.
Nhóm thứ nhất là hiệu quả kinh tế, tài chính, gồm NPV, IRR, thời gian hoàn vốn, dòng tiền hoạt động, khả năng trả nợ, chi phí vòng đời và khả năng duy trì hoạt động khi tỷ lệ lấp đầy thấp hơn dự kiến.
Nhóm thứ hai là hiệu quả môi trường, thể hiện qua lượng phát thải giảm được, mức tiết kiệm điện và nước, tỷ lệ nước tái sử dụng, tỷ lệ chất thải được tái chế và kết quả kiểm soát ô nhiễm.
Nhóm thứ ba là sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh, gồm tổng chi phí sử dụng hạ tầng của doanh nghiệp, độ tin cậy của nguồn điện và nước, chất lượng dịch vụ, khả năng thu hút FDI chất lượng cao và mức độ kết nối với doanh nghiệp Việt Nam.
Không nên gộp tất cả tiêu chí thành một điểm số duy nhất rồi dùng điểm số đó để quyết định mọi hình thức hỗ trợ.
Một dự án mang lại lợi ích môi trường lớn nhưng dòng tiền thương mại yếu có thể cần được hỗ trợ công có mục tiêu. Ngược lại, dự án có lợi nhuận cao nhưng không đáp ứng các yêu cầu môi trường bắt buộc thì không thể chỉ vì hiệu quả kinh doanh mà được xem là dự án xanh đủ điều kiện.
3 mô hình huy động vốn và 4 nguyên tắc cần tuân thủ
Về huy động vốn, có 3 mô hình hợp tác đáng được thử nghiệm, tùy theo đặc điểm từng nhóm dự án.
Mô hình thứ nhất là hợp tác giữa Nhà nước và tư nhân. Nhà nước hỗ trợ phần hạ tầng công cộng hoặc phần đầu tư mang lại lợi ích công, còn khu vực tư nhân đầu tư và vận hành theo hợp đồng. Mô hình này phù hợp với các công trình thoát nước, xử lý nước thải và hạ tầng môi trường dùng chung.
Mô hình thứ hai là hợp tác ba bên giữa chủ đầu tư khu công nghiệp, doanh nghiệp thuê đất và nhà cung cấp dịch vụ. Các bên có thể cùng đầu tư hoặc ký hợp đồng sử dụng dịch vụ dài hạn. Cách làm này phù hợp với các dự án năng lượng sạch, tiết kiệm điện và tái sử dụng nước.
Mô hình thứ ba là hợp tác giữa ngân hàng, công ty dịch vụ năng lượng ESCO và một nhóm doanh nghiệp. Theo đó, nhiều dự án nhỏ được chuẩn hóa và tập hợp thành một danh mục có quy mô đủ lớn để tiếp cận nguồn tài trợ. Mô hình này phù hợp với hoạt động nâng cấp thiết bị, cải tiến công nghệ và tiết kiệm năng lượng.
Tuy nhiên, việc lựa chọn mô hình phải dựa trên điều kiện thực tế. Hợp tác công tư chỉ có thể triển khai khi dự án đáp ứng quy định pháp luật.
Đối với hợp đồng dịch vụ năng lượng, cần xác định rõ mức tiêu thụ ban đầu làm cơ sở so sánh, phương pháp đo lường lượng năng lượng tiết kiệm được và cơ chế thanh toán. Nếu thiếu những yếu tố này, các bên sẽ không có căn cứ để xác định hiệu quả và thanh quyết toán.
Trong quá trình huy động vốn, cần bảo đảm đồng thời 3 mục tiêu: hiệu quả môi trường, hiệu quả tài chính của nhà đầu tư và chi phí hợp lý cho doanh nghiệp thuê đất. Đây là những mục tiêu có thể phát sinh mâu thuẫn nếu thiếu cơ chế phân bổ lợi ích và trách nhiệm phù hợp.
Để dung hòa các mục tiêu đó, cần tuân thủ 4 nguyên tắc.
Một là, không chuyển toàn bộ chi phí đầu tư xanh sang doanh nghiệp thuê đất. Chi phí phải được phân bổ theo nghĩa vụ, mức độ hưởng lợi và khả năng chi trả của từng bên.
Hai là, không bao cấp toàn bộ chi phí cho nhà đầu tư. Khu vực tư nhân phải chịu trách nhiệm với quyết định đầu tư và những rủi ro thương mại của mình.
Ba là, đánh giá hiệu quả theo toàn bộ vòng đời dự án. Một phương án có chi phí đầu tư ban đầu cao hơn vẫn có thể hợp lý nếu giúp giảm đáng kể chi phí vận hành và rủi ro môi trường về lâu dài.
Bốn là, mọi khoản hỗ trợ phải dựa trên kết quả có thể kiểm chứng. Muốn vậy, cần xác định rõ mức cơ sở để so sánh, chỉ tiêu đầu ra, phương pháp xác minh và trách nhiệm công bố thông tin.
Về lộ trình thực hiện, giai đoạn 2026 - 2027 cần tập trung chuẩn hóa các tiêu chí tài chính, môi trường và hồ sơ thẩm định dự án khu công nghiệp xanh.
Giai đoạn 2027 - 2028 tiến hành thí điểm các mô hình tín dụng xanh, bảo lãnh một phần, ESCO và hợp tác đầu tư hạ tầng dùng chung.
Đến giai đoạn 2028 - 2030, cần đánh giá độc lập về lượng vốn tư nhân huy động thêm được, hiệu quả trả nợ, chi phí sản xuất và mức giảm phát thải. Trên cơ sở đó, lựa chọn những mô hình có kết quả tốt để nhân rộng.
Đây là lộ trình đề xuất để tiếp tục thảo luận, hoàn thiện, không phải lịch trình đã được phê duyệt chính thức.
Việt Nam cần chuyển từ tư duy "tìm vốn để xây dựng KCN xanh" sang tư duy "thiết kế hệ thống tài chính để KCN xanh có thể tự huy động vốn, tạo dòng tiền và duy trì lợi ích môi trường lâu dài."
TS. Phan Hữu Thắng Nguyên Cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài

Trong cơ chế tài chính này, mỗi bên cần thực hiện đúng vai trò. Nhà nước xây dựng thể chế và hỗ trợ phần đầu tư mang lại lợi ích công. Ngân hàng và nhà đầu tư cung cấp vốn trên cơ sở đánh giá rủi ro. Chủ đầu tư khu công nghiệp tổ chức hệ sinh thái hạ tầng và dịch vụ. Doanh nghiệp FDI cùng doanh nghiệp Việt Nam sử dụng hạ tầng, đổi mới công nghệ và tạo ra giá trị.
Trong các giải pháp nêu trên, việc cần ưu tiên là xây dựng cơ chế tài chính xanh kết hợp bảo lãnh có mục tiêu, đi kèm danh mục dự án khu công nghiệp đủ điều kiện huy động vốn.
Cơ chế này phải minh bạch, có giới hạn rủi ro và đo lường được kết quả. Quan trọng nhất, mỗi đồng vốn hỗ trợ phải có khả năng huy động thêm nguồn lực tư nhân, thay vì thay thế phần vốn mà khu vực tư nhân có thể tự đầu tư.
TS. Phan Hữu Thắng
Nguyên Cục trưởng Cục Đầu Tư Nước Ngoài
