Khu Công nghệ cao Hòa Lạc: Từ phòng thí nghiệm riêng lẻ đến hạ tầng dùng chung

Không chỉ là câu chuyện đầu tư thêm thiết bị, xây thêm phòng thí nghiệm, Khu Công nghệ cao (CNC) Hòa Lạc đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nguồn lực nghiên cứu theo hướng dùng chung, kết nối và khai thác hiệu quả. Vấn đề cốt lõi là phải thay đổi cách tiếp cận: Từ quản lý tài sản sang quản trị năng lực nghiên cứu, hình thành hệ thống phòng thí nghiệm mở để nhiều tổ chức, nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp cùng khai thác.

Đại học Quốc gia Hà Nội tại Khu CNC Hòa Lạc. Ảnh: PV

Đại học Quốc gia Hà Nội tại Khu CNC Hòa Lạc. Ảnh: PV

Phải tổ chức được năng lực nghiên cứu

Theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo (Đại học Quốc gia Hà Nội), hạ tầng nghiên cứu, thiết bị hiện đại chỉ thực sự tạo ra tác động khi đi cùng cơ chế điều phối, vận hành và khai thác hiệu quả. Nếu chỉ chú trọng đầu tư mà thiếu kế hoạch vận hành sau đó, nguồn lực rất dễ bị phân tán, thiết bị lại không được khai thác tương xứng.

Ông chỉ ra ba hạn chế nổi bật. Thứ nhất là đầu tư phân tán. Các hệ thống phòng thí nghiệm dù được đầu tư lớn nhưng chưa liên thông, chưa hình thành một hệ thống năng lực có thể chia sẻ. Ngay trong Đại học Quốc gia Hà Nội, việc khai thác giữa các đơn vị đối với một số phòng thí nghiệm cũng chưa phải lúc nào đạt hiệu quả như mong muốn.

PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: PV

PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: PV

Thứ hai là đứt gãy trong vận hành. Một dự án có thể hoàn thành khi thiết bị được đưa vào phòng thí nghiệm, nhưng sau đó lại thiếu nguồn lực thường xuyên cho vận hành, bảo trì, sửa chữa, hiệu chuẩn và đội ngũ kỹ thuật.

Thứ ba là khai thác khép kín. Khi một đơn vị được giao quản lý thiết bị, tâm lý sợ trách nhiệm có thể khiến việc mở cửa cho các nhóm nghiên cứu, tổ chức khác cùng sử dụng bị hạn chế.

Theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, cần chuyển từ tư duy quản lý tài sản sang quản trị năng lực nghiên cứu. Một thiết bị đắt tiền không tự tạo ra giá trị. Giá trị của nó nằm ở số nhóm nghiên cứu có thể sử dụng, những công nghệ có thể phát triển, sản phẩm có thể hình thành và doanh nghiệp có thể được hỗ trợ.

Đó là lý do PGS.TS Trương Ngọc Kiểm cho rằng, mô hình phòng thí nghiệm dùng chung cần được đặt ra đối với Khu CNC Hòa Lạc. Bởi theo Quy hoạch Thủ đô, Khu CNC Hòa Lạc được xác định là cực tăng trưởng phía Tây dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tại đây đang hình thành không gian tập trung các trường, viện, doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Nếu những nguồn lực này được kết nối với nhau, Khu CNC Hòa Lạc có thể trở thành một điểm quan trọng trong mạng lưới hạ tầng nghiên cứu của quốc gia.

Đặc biệt, Quyết định số 1483/QĐ-TTg ngày 4-8-2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công nghệ chiến lược” tạo thêm cơ sở và thời điểm để triển khai sớm định hướng phát triển hạ tầng nghiên cứu phục vụ công nghệ chiến lược.

Theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, trong bối cảnh đó, lợi thế của Khu CNC Hòa Lạc không chỉ nằm ở quỹ không gian mà quan trọng hơn là khả năng hội tụ các nguồn lực.

Riêng Đại học Quốc gia Hà Nội hiện có 50 nhóm nghiên cứu mạnh, 14 trung tâm xuất sắc, khoảng 5.563 cán bộ khoa học; trong đó 61% là tiến sĩ và 631 giáo sư, phó giáo sư. Các định hướng hạ tầng dùng chung cũng đã được xác định ở những lĩnh vực như khoa học tính toán, phòng sạch và vi chế tạo, vật liệu, sinh học, thực tế ảo và số hóa.

Nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: PV

Nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: PV

Nếu những nguồn lực ấy tiếp tục vận hành riêng rẽ, lợi thế về quy mô khó chuyển thành sức mạnh chung. Ngược lại, nếu được kết nối, Khu CNC Hòa Lạc có thể hình thành một hệ sinh thái từ đào tạo, nghiên cứu đến thử nghiệm và đổi mới sáng tạo.

Ba lớp để hình thành một hệ sinh thái dùng chung

Nếu xây dựng hệ sinh thái phòng thí nghiệm dùng chung tại Khu CNC Hòa Lạc, PGS.TS Trương Ngọc Kiểm hình dung một hệ thống gồm ba lớp, thay vì tạo thêm những tầng nấc hành chính.

Lớp thứ nhất là hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm lõi, gồm các thiết bị chiến lược và phòng thí nghiệm trọng điểm. Đây là nơi tập trung những năng lực mà từng đơn vị riêng lẻ khó có thể đầu tư đầy đủ hoặc khai thác hết công suất.

Lớp thứ hai là nền tảng điều phối và vận hành chung. Nền tảng này phải trả lời được những câu hỏi rất cụ thể: Đang có những thiết bị, năng lực nào; ai có thể sử dụng; tiêu chuẩn chất lượng ra sao; chi phí thế nào và quy trình tiếp cận được thực hiện như thế nào. Đầu mối vận hành sẽ giúp biến những thiết bị nằm ở nhiều đơn vị thành một nguồn lực có thể tiếp cận từ một hệ thống chung.

Lớp thứ ba là mạng lưới lan tỏa, kết nối doanh nghiệp, hoạt động nghiên cứu - phát triển (R&D) và chuyển giao công nghệ. Khi đó, phòng thí nghiệm dùng chung không dừng ở việc cho thuê hoặc chia sẻ thiết bị, mà trở thành một mắt xích trong quá trình đưa kết quả nghiên cứu ra ứng dụng.

Phòng thử nghiệm của Công ty Cổ phần DT&C VINA tại Khu CNC Hòa Lạc. Ảnh: PV

Phòng thử nghiệm của Công ty Cổ phần DT&C VINA tại Khu CNC Hòa Lạc. Ảnh: PV

Theo mô hình đề xuất, trách nhiệm vận hành cần được tập trung, trong khi quyền tham gia quyết định chiến lược được mở rộng cho các bên liên quan như: Cơ quan quản lý nhà nước, Đại học Quốc gia Hà Nội, các tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp và Khu CNC Hòa Lạc. Đồng thời phải phân định rõ quyền đại diện chủ sở hữu tài sản, quyền quản lý - vận hành, quyền sử dụng mở và quyền quyết định chiến lược.

Để mô hình không dừng ở thiết kế, vấn đề tài chính cũng phải được tính theo vòng đời của hạ tầng: Từ đầu tư, vận hành, bảo trì, nâng cấp đến tái đầu tư. Nguồn lực có thể kết hợp giữa ngân sách lõi, doanh thu dịch vụ, đặt hàng của doanh nghiệp và hợp tác quốc tế. Cùng với đó, KPI cần chuyển từ đo việc mua sắm thiết bị sang đo hiệu quả khai thác, kết quả nghiên cứu, mức độ hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo, tài chính và đóng góp vào năng lực công nghệ chiến lược.

Theo PGS.TS Trương Ngọc Kiểm, trước mắt có thể rà soát toàn bộ năng lực, lập danh mục hạ tầng, xây dựng quy chế sử dụng chung và nền tảng số; sau đó thí điểm với tài sản liên cơ quan, cơ chế tái đầu tư doanh thu dịch vụ và nhân lực kỹ thuật. Những nội dung cần cơ chế mới như tài chính vòng đời, đồng đầu tư, phân cấp có thể được nghiên cứu, thí điểm từng bước.

Từ góc độ quản lý Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, ông Lê Thanh Sơn, Phó Trưởng ban Quản lý các Khu CNC và Khu công nghiệp thành phố Hà Nội, cho rằng, cần đặt nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp vào cùng một chuỗi với năng lực nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng.

Phòng thí nghiệm của Viện Thực phẩm chức năng tại Khu CNC Hòa Lạc. Ảnh: PV

Phòng thí nghiệm của Viện Thực phẩm chức năng tại Khu CNC Hòa Lạc. Ảnh: PV

Theo ông Lê Thanh Sơn, Ban Quản lý sẽ phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, các viện, trường, doanh nghiệp rà soát năng lực nghiên cứu, thử nghiệm dùng chung. Đồng thời tổng hợp, sàng lọc các bài toán công nghệ của doanh nghiệp để kết nối với những nhiệm vụ khoa học, công nghệ có khả năng ứng dụng; xác lập đầu mối và quy trình theo dõi xuyên suốt.

Khi đó, hạ tầng dùng chung ở Khu CNC Hòa Lạc không chỉ là câu chuyện chia sẻ phòng thí nghiệm hay thiết bị. Điều quan trọng hơn là hình thành được một chuỗi liên tục: Nhu cầu của doanh nghiệp, năng lực nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng, để mỗi khoản đầu tư cho hạ tầng nghiên cứu thực sự tạo thêm năng lực khoa học, công nghệ cho Thủ đô và cho mạng lưới nghiên cứu quốc gia.

Thu Hằng

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/khu-cong-nghe-cao-hoa-lac-tu-phong-thi-nghiem-rieng-le-den-ha-tang-dung-chung-1756480.html