Khung giá điện rác 2026: Cần tính đúng, tính đủ để tháo gỡ 'điểm nghẽn' đầu tư

Cục Điện lực (Bộ Công Thương) đang lấy ý kiến về khung giá phát điện năm 2026 đối với nhà máy điện rác, với mức giá trần dự kiến 2.378,39 đồng/kWh, giảm 7,64% so với năm 2025.

Mức giảm này khiến nhiều doanh nghiệp kiến nghị rà soát lại các thông số đầu vào để bảo đảm khung giá phản ánh đúng thực tế.

Suất tiêu hao nhiệt: Vì sao áp định mức tiệm cận điện than cho điện rác?

Một trong những thông số được đưa ra tính toán mức giá kể trên là suất tiêu hao nhiệt. 

Theo kết quả tính toán do EVN trình và đang được Cục Điện lực thẩm định, suất tiêu hao nhiệt tinh được xác định ở mức 2.602,8 kcal/kWh, tương ứng hiệu suất phát điện khoảng 33%. Mức hiệu suất này tiệm cận các nhà máy nhiệt điện than.

Trao đổi với PV, ông Nguyễn Mạnh Cường, Giám đốc Chi nhánh phía Bắc Công ty CP Tư vấn xây dựng Điện 4, nhận định phát triển điện rác góp phần giải quyết đồng thời bài toán năng lượng và môi trường. Điều này càng có ý nghĩa trong bối cảnh nguồn điện than ngày càng bị giới hạn, điện gió và điện mặt trời tập trung chủ yếu ở miền Trung, gây áp lực lên hệ thống truyền tải. Trong khi đó, các dự án điện rác có thể phân bổ tại nhiều địa phương, qua đó bổ sung nguồn điện tại chỗ và hỗ trợ hệ thống điện.

Những năm qua, Chính phủ cũng có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển điện rác, trong đó có cơ chế giá điện.

Điện rác giải quyết bài toán về xử lý rác. 

Điện rác giải quyết bài toán về xử lý rác. 

Tuy nhiên, ông Cường cho rằng điện rác có những đặc thù kỹ thuật khiến chi phí đầu tư và vận hành cao. Công nghệ điện rác phức tạp tương tự nhà máy nhiệt điện than, song nhiên liệu đầu vào là rác có nhiều thành phần gây ăn mòn, khiến thiết bị nhanh xuống cấp và chi phí vận hành, bảo dưỡng (O&M) lớn.

Bên cạnh đó, thành phần rác biến động theo thời gian, mùa vụ và thói quen sinh hoạt của người dân. Điều này khiến quá trình đốt rác không ổn định, ảnh hưởng đến hiệu suất phát điện của các tổ máy. 

Ngoài ra, điện rác phải dành nguồn lực đáng kể cho xử lý môi trường như nước thải và khí thải. Đây là những khoản chi phí mà các nhà máy điện than không phải chịu ở mức tương tự.

Từ những đặc thù của điện rác, ông Cường cho rằng việc áp suất tiêu hao nhiệt 2.602,8 kcal/kWh, tương ứng hiệu suất khoảng 33% là khá cao.

“Điện than có đặc tính nhiên liệu đầu vào ổn định nên hiệu suất của các nhà máy điện than mới có thể trên 40%, trong khi một số tổ máy điện than cũ chỉ khoảng 26%. Với điện rác, hiệu suất theo thiết kế lâu nay chỉ khoảng 20-26%. Vì vậy, mức 33% là khá cao", ông phân tích. Do đó, suất tiêu hao nhiệt cần được xem xét theo hướng sát hơn với điều kiện vận hành thực tế của các dự án điện rác hiện nay.

Trong kiến nghị gửi đến Bộ Công Thương, một doanh nghiệp cho biết: Rác sinh hoạt tại Việt Nam thường có độ ẩm cao, nhiệt trị thấp, thành phần không đồng nhất và biến động theo khu vực, mùa vụ, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hồi nhiệt và phát điện.

Theo hồ sơ thiết kế và dữ liệu vận hành của một số dự án, hiệu suất phát điện thực tế của nhà máy điện rác thường chỉ khoảng 20-24%. Tương ứng, suất tiêu hao nhiệt tinh có thể ở mức 3.583-4.302 kcal/kWh, cao hơn đáng kể so với con số 2.602,8 kcal/kWh đang được sử dụng.

Nếu giả định hiệu suất cao hơn thực tế, sản lượng điện tính toán sẽ tăng lên, trong khi chi phí phát điện lại bị kéo xuống. Điều này có thể làm sai lệch đáng kể kết quả xác định khung giá.

Vì vậy, doanh nghiệp kiến nghị suất tiêu hao nhiệt cần được xác định trên cơ sở dữ liệu thực tế của các nhà máy điện rác có công nghệ, quy mô và điều kiện vận hành tương đồng, thay vì sử dụng thông số tiệm cận nhiệt điện than.

Suất đầu tư: Chưa cập nhật biến động chi phí thực tế

Ngoài vấn đề suất tiêu hao nhiệt, dự thảo cũng đang sử dụng suất đầu tư khoảng 120,164 triệu đồng/kW, được tính từ dữ liệu của dự án lập cách đây khoảng hai năm. Theo các doanh nghiệp, mức này chưa phản ánh đầy đủ mặt bằng chi phí đầu tư hiện nay.

Dữ liệu từ một số dự án đang triển khai cho thấy suất đầu tư thực tế đã tăng khoảng 15%. Theo đó, doanh nghiệp đề xuất cập nhật mức tham chiếu lên khoảng 135-140 triệu đồng/kW hoặc sử dụng dữ liệu của các dự án đã được thẩm tra, báo giá và triển khai gần nhất.

Chi phí tăng đến từ nhiều yếu tố: nhân công thi công, lắp đặt tăng đột biến; giá vật tư, thiết bị chịu tác động mạnh của xung đột địa chính trị và đứt gãy chuỗi cung ứng; giá năng lượng, vận tải, bảo hiểm và logistics quốc tế đều ở mặt bằng cao.

Tác động đối với điện rác càng rõ khi nhiều thiết bị công nghệ chính, linh kiện và vật tư chuyên ngành phải nhập khẩu, đồng thời các yêu cầu về công nghệ và tiêu chuẩn môi trường ngày càng cao.

Do đó, việc tiếp tục sử dụng dữ liệu từ một FS cũ tạo khoảng cách đáng kể giữa suất đầu tư tính toán và chi phí thực tế của dự án.

Hầu hết các dự án đang được lập phải mất khoảng 15 năm mới có thể thu hồi vốn, trong khi tuổi thọ nhà máy điện rác chỉ khoảng 20 năm.

Hầu hết các dự án đang được lập phải mất khoảng 15 năm mới có thể thu hồi vốn, trong khi tuổi thọ nhà máy điện rác chỉ khoảng 20 năm.

Chi phí vận hành và bảo dưỡng (O&M) cũng cần rà soát

Dự thảo hiện sử dụng tỷ lệ O&M cố định 2,1%. Trong khi đó, điện rác phải vận hành với nguồn nhiên liệu không đồng nhất, độ ẩm cao, nhiều tạp chất, khiến thiết bị chịu mức độ ăn mòn và mài mòn lớn.

Liên quan đến chi phí O&M này, ông Nguyễn Mạnh Cường cho biết mức 2,1% đã được điều chỉnh tăng nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với thực tế. Bởi, trong rác có nhiều thành phần gây ăn mòn mạnh, khiến tuổi thọ nhà máy điện rác chỉ khoảng 20 năm. Tuổi thọ ngắn đồng nghĩa chi phí O&M phải cao hơn.

Tương tự, việc xác định suất đầu tư cần được tham vấn từ các nhà cung cấp công nghệ trên thị trường, các nhà máy điện rác đã vận hành cũng như những dự án đang trong quá trình xây dựng. 

Ông Cường cho rằng việc xây dựng khung giá điện từ các thông số trong báo cáo nghiên cứu khả thi (FS) có thể dẫn tới sai số nếu hồ sơ được lập từ lâu hoặc chưa cập nhật đầy đủ các số liệu thực tế.

“Điều này dễ dẫn đến sai số, làm giảm sức hấp dẫn của lĩnh vực điện rác. Các chủ đầu tư có thể phải xem xét lại quyết định đầu tư, trong khi Việt Nam vẫn còn thiếu nhiều nhà máy điện rác”, ông nhận định.

Theo số liệu được doanh nghiệp tổng hợp gửi Bộ Công Thương, tỷ lệ O&M thực tế của nhà máy điện rác có thể dao động khoảng 4-7,5%, cao gấp 2-3 lần mức đang được sử dụng trong dự thảo. Nếu chi phí này được tính thấp hơn thực tế, phần chi phí vận hành trong suốt vòng đời dự án sẽ chưa được phản ánh đầy đủ vào giá điện.

Cùng với suất tiêu hao nhiệt và suất đầu tư, O&M vì vậy là một trong ba nhóm thông số cốt lõi mà doanh nghiệp kiến nghị cập nhật khi xây dựng khung giá năm 2026.

Nhiều doanh nghiệp kiến nghị ưu tiên giữ giá FIT 

Từ thực tế triển khai, trong góp ý gửi Bộ Công Thương, đa số doanh nghiệp điện rác kiến nghị tiếp tục duy trì cơ chế giá FIT nhằm bảo đảm tính ổn định của chính sách và củng cố niềm tin của nhà đầu tư, tổ chức tín dụng đối với các dự án có vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài.

Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy, tại nhiều thị trường như Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia, Thái Lan hay Indonesia, các dự án điện từ chất thải được hỗ trợ bằng cơ chế giá FIT hoặc hợp đồng mua điện dài hạn từ 20 năm trở lên, nhằm tạo sự ổn định cho những dự án có vốn đầu tư lớn và thời gian hoàn vốn dài, qua đó thúc đẩy phát triển lĩnh vực này.

Trong trường hợp chuyển sang cơ chế khung giá mới, doanh nghiệp đề nghị tính toán lại đầy đủ các thông số đầu vào, từ suất tiêu hao nhiệt, suất đầu tư, chi phí O&M đến các cấu phần liên quan. Trên cơ sở đó, mức giá trần được kiến nghị khoảng 2.700-2.800 đồng/kWh để sát hơn với mặt bằng chi phí thực tế và bảo đảm khả năng thu xếp vốn, vận hành dự án dài hạn.

Thực tế, số lượng các dự án nhà máy điện rác ở nước ta vẫn còn khiêm tốn. Nếu tiến độ đầu tư không được đẩy nhanh, việc xử lý rác thải và các vấn đề môi trường sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng. Do đó, cần xem xét điện rác không chỉ dưới góc độ kinh tế mà cả ở khía cạnh xã hội. Nhà nước cần có thêm chính sách hỗ trợ để thu hút đầu tư, qua đó vừa bảo đảm nguồn năng lượng, vừa giải quyết bài toán xử lý chất thải.

Ông Cường cho biết, hầu hết các dự án đang được lập phải mất khoảng 15 năm mới có thể thu hồi vốn, trong khi tuổi thọ nhà máy điện rác chỉ khoảng 20 năm. Nếu thời gian thu hồi vốn tiếp tục kéo dài, tính khả thi tài chính của dự án sẽ giảm đáng kể.

“Khi điện rác kém hấp dẫn, nhà đầu tư có thể chuyển sang các loại hình năng lượng khác. Lúc đó, việc huy động vốn cho các dự án điện rác sẽ càng khó khăn”, ông nói.

Từ thực tế trên, ông Cường đề xuất khi xây dựng khung giá điện rác cần đánh giá lại các thông số theo hướng sát thực tế và hợp lý hơn, nhằm duy trì sức hấp dẫn của lĩnh vực này trong những năm tới. Đặc biệt, cơ quan quản lý nên tham vấn thêm ý kiến từ các nhà máy điện rác tại nhiều địa phương, nhất là những dự án đã vận hành, để có cơ sở xác định các thông số kỹ thuật và suất đầu tư phù hợp hơn.

Tâm An

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/khung-gia-dien-rac-2026-can-tinh-dung-tinh-du-de-thao-go-diem-nghen-dau-tu-2548251.html