Khuyến khích đảng viên làm giàu phải giải được bài toán kiểm soát quyền lực

Khuyến khích làm giàu cũng khiến chúng ta phải quan tâm hơn đến một ranh giới vốn không dễ nhận ra: đâu là thành quả kinh doanh từ năng lực và nguồn lực hợp pháp, đâu là lợi thế có được nhờ ảnh hưởng của chức vụ?

Hồi học lớp 1, tôi rất thèm ăn bánh bao. Một lần, có người chú là đồng nghiệp của bố mẹ đến chơi, thấy tôi thích liền đưa đi mua. Về nhà, tôi bị bố mẹ mắng vì chú cũng nghèo, chẳng dư dả gì mà tôi lại đòi ăn. Những năm ấy, một chiếc bánh bao cũng là món quà đáng quý với nhiều gia đình.

Đến năm 1993, bố tôi nghỉ hưu quân đội khi mới 44 tuổi. Là một đảng viên, ông bước ra thương trường, lập một công ty mang tên con trai rồi bươn chải làm ăn, nuôi hai anh em tôi khôn lớn, vào đại học. Hơn 30 năm sau, khi đọc tin Trung ương bàn chủ trương khuyến khích đảng viên đầu tư, kinh doanh, tôi lại nhớ đến bố và những năm tháng ấy.

Tại hội nghị Trung ương 4 khóa 14 ngày 8/10 vừa qua, Trung ương thống nhất quan điểm chuyển từ “cho phép” sang “khuyến khích, tạo điều kiện” để đảng viên làm giàu chính đáng, đóng góp cho đất nước. Cách tiếp cận ấy phản ánh sự trưởng thành của kinh tế tư nhân và những hình thức đầu tư, kinh doanh ngày càng đa dạng. Ảnh: Phước Sáng

Tại hội nghị Trung ương 4 khóa 14 ngày 8/10 vừa qua, Trung ương thống nhất quan điểm chuyển từ “cho phép” sang “khuyến khích, tạo điều kiện” để đảng viên làm giàu chính đáng, đóng góp cho đất nước. Cách tiếp cận ấy phản ánh sự trưởng thành của kinh tế tư nhân và những hình thức đầu tư, kinh doanh ngày càng đa dạng. Ảnh: Phước Sáng

Câu chuyện của một gia đình khiến tôi nghĩ đến hành trình dài hơn của đất nước: quan niệm về đảng viên làm kinh tế đã thay đổi ra sao và làm thế nào để khát vọng vươn lên của mỗi người góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn?

Một mạch giá trị qua những bước ngoặt

Trong Cương lĩnh đầu tiên năm 1930, bên cạnh nhiệm vụ giành độc lập dân tộc, Đảng đặt ra những yêu cầu cụ thể về đời sống: bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo, mở mang công nghiệp và nông nghiệp, thực hiện ngày làm 8 giờ, phát triển giáo dục. Giữa hoàn cảnh đất nước còn dưới ách thuộc địa, những mục tiêu ấy hướng đến quyền sống và điều kiện lao động của người dân. Quan niệm về sở hữu, về tổ chức nền kinh tế khi đó khác rất xa ngày nay, nhưng mối quan tâm đến đời sống nhân dân là điều có thể nhận ra.

Năm 1941, khi nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu, hội nghị Trung ương 8 điều chỉnh chủ trương để tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, việc huy động sức dân càng cấp bách khi chính quyền mới vừa chống đói, chống dốt, vừa khôi phục sản xuất và tìm nguồn lực kiến thiết quốc gia.

Trong thư gửi giới công thương ngày 13/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau”. Người mong những nhà công nghiệp, thương nghiệp góp vốn liếng và công sức vào công cuộc ích quốc lợi dân. Lời căn dặn ấy xuất phát từ hoàn cảnh riêng của buổi đầu lập quốc nhưng gợi một suy nghĩ còn nguyên ý nghĩa: hoạt động làm ăn chính đáng của mỗi người có thể gắn với sự thịnh vượng của đất nước.

Lịch sử kinh tế Việt Nam sau đó không đi theo một đường thẳng. Từ cuối những năm 1950, miền Bắc tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Sau năm 1975, cơ chế quản lý tập trung, bao cấp được mở rộng. Trong điều kiện lịch sử và nhận thức lý luận của từng thời kỳ, những chính sách ấy có mục tiêu riêng song quá trình thực hiện cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Sản xuất thiếu động lực, hàng hóa khan hiếm và đời sống của không ít gia đình còn chật vật trong thời gian dài.

Đại hội 6 năm 1986 đánh dấu bước ngoặt khi Đảng nhìn nhận những sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo và quản lý kinh tế, rút ra bài học lấy dân làm gốc, xuất phát từ thực tế và tôn trọng quy luật khách quan. Chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đổi mới cơ chế quản lý từng bước mở ra cơ hội làm ăn cho người dân. Những khó khăn không thể biến mất ngay, nhưng chính trong dòng chuyển động ấy, nhiều gia đình đã tìm được con đường tự cải thiện cuộc sống. Bố tôi lập doanh nghiệp vào những năm đầu của quá trình đó.

Tháng 3/2002, hội nghị Trung ương 5 khóa 9 xác định phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài. Năm 2006, Quy định số 15-QĐ/TW cụ thể hóa chủ trương đảng viên làm kinh tế tư nhân. Năm 2017, Nghị quyết 10-NQ/TW nhìn nhận kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng, trước khi Nghị quyết 68-NQ/TW năm 2025 xác định khu vực này là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia.

Tại hội nghị Trung ương 4 khóa 14 ngày 8/10 vừa qua, Trung ương thống nhất quan điểm chuyển từ “cho phép” sang “khuyến khích, tạo điều kiện” để đảng viên làm giàu chính đáng, đóng góp cho đất nước. Sau 20 năm kể từ Quy định số 15-QĐ/TW, cách tiếp cận ấy phản ánh sự trưởng thành của kinh tế tư nhân và những hình thức đầu tư, kinh doanh ngày càng đa dạng. Cũng cần nhớ rằng đây là thành quả của một quá trình dài tổng kết thực tiễn, điều chỉnh nhận thức và chính sách.

Các đại biểu tham dự phiên bế mạc hội nghị Trung ương 4 khóa 14. Ảnh: TTXVN

Các đại biểu tham dự phiên bế mạc hội nghị Trung ương 4 khóa 14. Ảnh: TTXVN

Nhìn lại gần một thế kỷ, tư duy kinh tế qua các giai đoạn rõ ràng có những khác biệt, cả những lựa chọn cần được nhìn nhận lại. Sợi dây nối các thời kỳ nằm ở mục tiêu nâng cao đời sống nhân dân và khả năng thay đổi cách thực hiện khi thực tiễn đặt ra yêu cầu mới. Đó cũng là ý nghĩa sâu xa của Đổi mới.

Làm giàu chính đáng phải có ranh giới với quyền lực

Khuyến khích làm giàu cũng khiến chúng ta phải quan tâm hơn đến một ranh giới vốn không dễ nhận ra: đâu là thành quả kinh doanh từ năng lực và nguồn lực hợp pháp, đâu là lợi thế có được nhờ ảnh hưởng của chức vụ?

Thử hình dung một quán cà phê được biết đến là của một quan chức cấp cao. Nếu quán đông khách nhờ đồ uống ngon, phục vụ tốt thì đó là chuyện kinh doanh bình thường. Nhưng có thể cũng có người đến chỉ để được gặp gỡ, tạo quan hệ, hay hy vọng sự hiện diện của mình sẽ được ghi nhớ. Quán đông khách chưa nói lên điều gì sai trái, song câu hỏi về lợi thế bắt nguồn từ địa vị của người chủ sẽ nảy sinh. Một cơ sở kinh doanh khác, dù phục vụ tốt đến mấy, chưa chắc có được những vị khách như vậy.

Ảnh hưởng của quyền lực đôi khi chẳng cần một quyết định ưu ái công khai. Nó có thể nằm ở thông tin quy hoạch chưa công bố, một cuộc giới thiệu đối tác hoặc tâm lý muốn lấy lòng người có chức vụ. Vì vậy, kiểm soát xung đột lợi ích cần nhìn cả người thực sự chi phối, hưởng lợi, thay vì dừng ở tên người đứng trên giấy phép.

Những nguy cơ ấy đã được nhận diện trong các quy định trước đây. Khoản 4 Điều 3 Quy định số 15-QĐ/TW năm 2006 yêu cầu đảng viên thuộc các nhóm chức danh liên quan không để vợ, chồng, con lợi dụng chức vụ, quyền hạn và uy tín của mình làm kinh tế tư nhân. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 cũng quy định những giới hạn đối với hoạt động kinh doanh của người đứng đầu cơ quan nhà nước và người thân trong phạm vi ngành nghề họ trực tiếp quản lý. Nền tảng pháp lý đã có, vấn đề là làm sao các quy định ấy được thực hiện đầy đủ trong điều kiện mới.

Ngày nay, lợi ích kinh doanh có thể nằm sau nhiều tầng sở hữu, cổ phần hoặc hợp đồng liên kết. Luật sửa đổi, bổ sung Luật Doanh nghiệp năm 2025 đã bổ sung quy định về chủ sở hữu hưởng lợi, tạo thêm cơ sở để nhận diện cá nhân thực sự sở hữu hoặc chi phối doanh nghiệp. Quy định mới của Đảng, theo tôi, nên làm chặt chẽ hơn yêu cầu minh bạch lợi ích, phù hợp với chức trách từng nhóm đảng viên và có cơ chế giám sát khả thi, tránh để việc kê khai chỉ dừng ở hình thức.

Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy kiểm soát phải đi vào những quan hệ lợi ích cụ thể. Theo Bộ quy tắc dành cho bộ trưởng của Anh, các bộ trưởng có trách nhiệm khai báo lợi ích riêng có thể phát sinh xung đột, kể cả lợi ích liên quan của người thân; trường hợp có liên quan đến công việc công phải có biện pháp xử lý, kể cả đứng ngoài quá trình xem xét, quyết định. Ở Việt Nam, những lĩnh vực như quy hoạch, cấp phép, đấu thầu và phân bổ nguồn lực công càng cần cơ chế kiểm tra, xác minh độc lập và quy trình xử lý xung đột lợi ích rõ ràng. Có như vậy, người làm ăn ngay thẳng mới yên tâm rằng mình được cạnh tranh bằng sản phẩm, dịch vụ và năng lực thật.

Nhớ những năm tháng bố bươn chải nuôi con ăn học, tôi càng thấy khát vọng làm ăn và cải thiện cuộc sống là điều tự nhiên, đáng được trân trọng. Sau 40 năm Đổi mới, đất nước đã có thêm điều kiện để khát vọng ấy phát huy. Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc nước và việc nhà vẫn gợi nhiều suy nghĩ: 2 việc ấy có thể cùng góp vào sự thịnh vượng chung, miễn là quyền lực của việc nước được giữ đúng chỗ, không trở thành vốn liếng riêng của việc nhà.

Nguyễn Phước Thắng

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/khuyen-khich-dang-vien-lam-giau-phai-giai-duoc-bai-toan-kiem-soat-quyen-luc-2563846.html