Khuyến nông - 'điểm tựa' cho ngành thủy sản chuyển đổi xanh

Trong bối cảnh ngành thủy sản đẩy mạnh chuyển đổi xanh, công tác khuyến nông không chỉ dừng lại ở chuyển giao kỹ thuật mà còn đóng vai trò kết nối chuỗi giá trị và định hướng sản xuất bền vững từ cơ sở.

Xung quanh nội dung này, phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Gia Lai có cuộc phỏng vấn ông Huỳnh Việt Hùng - Giám đốc Trung tâm Khuyến nông (Sở Nông nghiệp và Môi trường).

* Trong bối cảnh ngành thủy sản đang đẩy mạnh chuyển đổi xanh, ông đánh giá như thế nào về vai trò của hệ thống khuyến nông thời gian qua?

- Hằng năm, Trung tâm Khuyến nông triển khai 6-7 mô hình thủy sản, tập trung vào các đối tượng nuôi chủ lực, phù hợp với điều kiện từng vùng sinh thái.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay không nằm ở chủ trương mà là nguồn vốn đối ứng của người dân, nhất là khi áp dụng các mô hình công nghệ cao.

Điển hình là mô hình nuôi tôm theo công nghệ semi-biofloc. Mô hình này đòi hỏi đầu tư hạ tầng bài bản, quản lý môi trường chặt chẽ và tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu kỹ thuật.

Sau 2 năm triển khai, hiệu quả của mô hình đã được chứng minh rõ rệt: Giảm lượng thức ăn, hạ hệ số tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR), hạn chế dịch bệnh, kéo giãn thời gian thay nước, từ đó giảm chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận cuối vụ.

Quan trọng hơn, mô hình này góp phần kiểm soát phát thải, bảo vệ nguồn nước - yếu tố then chốt của phát triển bền vững.

 Mô hình nuôi cá điêu hồng trong lồng bè trên hồ thủy điện được đánh giá là hướng phát triển kinh tế mang lại hiệu quả cao. Ảnh: N.N

Mô hình nuôi cá điêu hồng trong lồng bè trên hồ thủy điện được đánh giá là hướng phát triển kinh tế mang lại hiệu quả cao. Ảnh: N.N

Một điểm nhấn khác là việc kết nối thành công các hộ nuôi cá điêu hồng lồng bè với doanh nghiệp xuất khẩu sang Nhật Bản - thị trường nổi tiếng khắt khe về chất lượng và truy xuất nguồn gốc.

Trung tâm đã tổ chức tập huấn, xây dựng quy trình sản xuất thống nhất, phối hợp với doanh nghiệp lấy mẫu kiểm nghiệm các chỉ tiêu trước khi xuất khẩu.

Khi đầu ra ổn định, giá thu mua minh bạch và cao hơn thị trường, người dân dần thay đổi tư duy sang sản xuất tuân thủ các quy chuẩn.

Năm 2025, ngành thủy sản chịu tác động kép của thiên tai và dịch bệnh trên tôm. Trong bối cảnh đó, hệ thống khuyến nông đã phát huy rõ vai trò “điểm tựa kỹ thuật”.

Bên cạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, cán bộ kỹ thuật trực tiếp xuống ao nuôi, tổ chức các buổi tọa đàm tại thực địa với sự tham gia của chuyên gia và doanh nghiệp để kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh.

Việc hỗ trợ vật tư, men vi sinh xử lý môi trường, tăng sức đề kháng cho vật nuôi đã giúp nhiều hộ giảm thiểu thiệt hại và sớm khôi phục sản xuất.

Sự kết hợp giữa khả năng ứng phó linh hoạt trước rủi ro dịch bệnh, biến động môi trường với nền tảng kỹ thuật vững chắc đã giúp người nuôi từng bước làm chủ quy trình sản xuất, tạo nền tảng căn cơ cho ngành thủy sản phát triển theo hướng sinh thái, bền vững và nâng cao giá trị gia tăng.

* Từ thực tiễn đó, định hướng khuyến nông thủy sản năm 2026 sẽ tập trung vào những nội dung trọng tâm nào để thúc đẩy chuyển đổi xanh, thưa ông?

 Ông Huỳnh Việt Hùng. Ảnh: N.N

Ông Huỳnh Việt Hùng. Ảnh: N.N

- Năm 2026, ngành thủy sản phải thích ứng mạnh mẽ với biến đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.

Trên cơ sở chỉ đạo của tỉnh và Sở Nông nghiệp và Môi trường, khuyến nông thủy sản sẽ tập trung vào 3 nhóm nhiệm vụ trọng tâm.

Thứ nhất, chuyển đổi tư duy sản xuất theo hướng xanh, tuần hoàn và an toàn sinh học.

Trung tâm Khuyến nông tiếp tục nhân rộng các mô hình nuôi tôm 2 giai đoạn, semi-biofloc; phát triển nuôi cá lồng bè theo tiêu chuẩn VietGAP.

Mục tiêu không chỉ là tăng sản lượng mà còn tối ưu chi phí, giảm phát thải và bảo vệ môi trường nước.

Thứ hai, phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị. Dự kiến năm 2026 sẽ triển khai khoảng 7-8 nhóm mô hình với gần 78 điểm thực hiện, gồm nuôi tôm, cua xanh trong hộp nhựa, cá điêu hồng, rô phi lồng bè trên hồ chứa, cá thát lát cườm, cá lăng đuôi đỏ…

Tất cả mô hình đều gắn với yêu cầu chuẩn hóa quy trình và liên kết tiêu thụ, tạo nền tảng cho tăng trưởng xanh lâu dài.

Thứ ba, thúc đẩy chuyển đổi sinh kế cho ngư dân theo hướng giảm áp lực khai thác tự nhiên, gia tăng giá trị trên 1 đơn vị diện tích và mặt nước. Đây là trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững ngành thủy sản giai đoạn mới.

* Theo ông, đâu là thách thức lớn nhất trong quá trình chuyển đổi xanh hiện nay và giải pháp để vượt qua?

- Thách thức lớn nhất hiện nay là lực lượng kỹ thuật ở cơ sở còn mỏng, trong khi địa bàn rộng và yêu cầu chuyên môn ngày càng cao. Bên cạnh đó, chi phí đầu tư ban đầu cho các mô hình sản xuất xanh tương đối lớn, vượt quá khả năng của nhiều hộ dân.

Giải pháp của Trung tâm Khuyến nông là triển khai từng bước chắc chắn, lựa chọn những hộ đủ điều kiện, thẩm định kỹ hạ tầng trước khi thực hiện, tránh làm ồ ạt.

Đồng thời, chú trọng đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở; đẩy mạnh kết nối thị trường để bảo đảm đầu ra ổn định cho sản phẩm.

Thực tế cho thấy, khi người dân nhìn thấy rõ hiệu quả kinh tế và sản phẩm được tiêu thụ với giá tốt, họ sẵn sàng thay đổi cách làm. Vì vậy, khuyến nông hiện nay không chỉ dừng lại ở chuyển giao kỹ thuật mà còn phải đóng vai trò “cầu nối” thị trường, “bà đỡ” của chuỗi giá trị và là “kiến trúc sư” của hệ sinh thái sản xuất sinh thái, hiện đại, bền vững.

* Xin cảm ơn ông!

NGỌC NGA

Nguồn Gia Lai: https://baogialai.com.vn/khuyen-nong-diem-tua-cho-nganh-thuy-san-chuyen-doi-xanh-post581375.html