Kích hoạt tài nguyên di sản trong kỷ nguyên số

Không chỉ giúp bảo tồn, lưu giữ di sản, cuộc cách mạng số với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, công nghệ thực tế ảo, thực tế tăng cường… đang mở ra những cách tiếp cận mới giúp chuyển hóa di sản thành nguồn lực số có giá trị cho đời sống kinh tế-xã hội.

Công nghệ trình chiếu hiện đại biến di sản Hoàng thành Thăng Long thành sân khấu rực rỡ sắc màu. (Ảnh: NAM NGUYỄN)

Công nghệ trình chiếu hiện đại biến di sản Hoàng thành Thăng Long thành sân khấu rực rỡ sắc màu. (Ảnh: NAM NGUYỄN)

Không chỉ giúp bảo tồn, lưu giữ di sản, cuộc cách mạng số với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, công nghệ thực tế ảo, thực tế tăng cường… đang mở ra những cách tiếp cận mới giúp chuyển hóa di sản thành nguồn lực số có giá trị cho đời sống kinh tế-xã hội. Đây cũng là cơ hội để di sản từng bước vượt qua những giới hạn về thời gian, không gian, đến gần hơn với công chúng và phát huy giá trị một cách bền vững.

Những ngày qua, một chiến dịch livestream quy mô lớn mang tên “Chạm di sản - Ký ức đô thị” được khởi động tại Thành phố Hồ Chí Minh với sự “bắt tay” của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố, Quỹ Hỗ trợ Bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam và TikTok Việt Nam.

Khi công nghệ đồng hành cùng di sản

Xuyên suốt hành trình từ tháng 6 đến tháng 7/2026, người theo dõi các phiên live trên kênh TikTok Di sản Việt Nam được theo chân các nhà sáng tạo nội dung: Nguyễn Đức Huy, Hưng Lương, Mỹ Thiên… đến các phường Bến Thành, Sài Gòn, Chợ Lớn để khám phá nhiều di sản, công trình kiến trúc, không gian văn hóa, ẩm thực đặc trưng như: Dinh Độc Lập, Chợ Bến Thành, Ga Metro, Bảo tàng Mỹ thuật, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Trung tâm, Nhà hát Thành phố, phố Hải Thượng Lãn Ông…

Điều thú vị là thông qua phương thức này, việc giới thiệu các di sản không hề khô khan, mà hiện hữu sống động, gắn với những câu chuyện kể hấp dẫn, những trải nghiệm giàu cảm xúc.

“Chạm di sản - Ký ức đô thị” là hoạt động thực tế đầu tiên cụ thể hóa cách tiếp cận và triển khai chương trình “dLocals Thành phố Hồ Chí Minh” - một sáng kiến nhằm đưa di sản văn hóa địa phương đến gần hơn với cộng đồng qua nền tảng số.

Chỉ tính riêng hai phiên livestream đầu, chương trình đã ghi nhận hàng triệu lượt tương tác, hiển thị trên nền tảng TikTok. Nhiều khán giả bày tỏ sự xúc động khi được gặp lại những không gian di sản gắn với ký ức; trong khi không ít người cho biết được truyền cảm hứng muốn đi để trực tiếp cảm nhận.

Thời gian gần đây, việc ứng dụng công nghệ số vào khai thác, phát huy giá trị di sản ở nước ta ngày càng được đẩy mạnh với nhiều mô hình ghi nhận kết quả tích cực.

Có thể kể đến tour đêm “Tinh hoa đạo học” tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám, nơi công nghệ 3D Mapping và kỹ thuật trình chiếu đa phương tiện trở thành trợ thủ đắc lực để gia tăng tính hấp dẫn cho câu chuyện về truyền thống khoa bảng; hay ứng dụng iMuseum VFA tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam với khả năng chỉ đường, thuyết minh nhiều ngôn ngữ.

Bên cạnh đó, không ít triển lãm trực tuyến, tour tham quan thực tế ảo, trưng bày 3D… được các đơn vị như Hoàng thành Thăng Long, Quần thể di tích Cố đô Huế, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, các trung tâm lưu trữ quốc gia… áp dụng, tạo nên những sản phẩm văn hóa, du lịch hút khách.

Không thể phủ nhận, trong kỷ nguyên số, công nghệ đang trở thành cầu nối hữu hiệu để gắn kết di sản và công chúng đương đại. Ở đó, di sản không chỉ tồn tại như dạng thức văn hóa cần gìn giữ, mà ngày càng chứng minh vai trò là nguồn lực sáng tạo có thể được nhận diện, diễn giải, giúp hình thành những chuỗi giá trị mới.

Công nghệ thực tế ảo giúp tour đêm Văn Miếu-Quốc Tử Giám thêm hấp dẫn. (Ảnh: Văn Miếu-Quốc Tử Giám)

Công nghệ thực tế ảo giúp tour đêm Văn Miếu-Quốc Tử Giám thêm hấp dẫn. (Ảnh: Văn Miếu-Quốc Tử Giám)

Biến di sản thành nguồn lực phát triển

Sở hữu hệ thống di sản văn hóa vật thể, phi vật thể phong phú, với hàng chục nghìn di tích trải dài khắp cả nước, Việt Nam đang có trong tay “mỏ vàng” di sản. Nếu biết tận dụng sức mạnh của công nghệ, kho báu này sẽ trở thành nguồn lực quan trọng trong phát triển văn hóa, du lịch, giáo dục và công nghiệp sáng tạo.

Đây cũng là tinh thần được nhấn mạnh tại Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, khi khẳng định: Phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Nghị quyết xác định nhiệm vụ phải chuẩn hóa, số hóa toàn diện di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 cũng đề cập giải pháp nâng cao tỷ lệ số hóa các di sản văn hóa, hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia để các nghệ sĩ, nhà thiết kế... thực hiện ý tưởng sáng tạo. Những định hướng này cho thấy chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản đã trở thành yêu cầu chiến lược.

Thời gian qua, tuy đã ghi nhận một số kết quả khả quan, nhưng quá trình chuyển hóa các giá trị di sản thành nguồn lực phát triển tại nước ta vẫn còn không ít “điểm nghẽn”. Số hóa di sản trong nhiều trường hợp vẫn chỉ được tiếp cận dưới góc độ bảo tồn, thay vì được coi như chất liệu sáng tạo.

Ở một số nơi, ứng dụng công nghệ trong khai thác di sản chỉ dừng ở mức tạo hiệu ứng thị giác mà thiếu chú trọng chiều sâu văn hóa. Sự liên kết giữa nghệ nhân, cộng đồng, doanh nghiệp sáng tạo, công nghệ và thị trường còn rời rạc. Bên cạnh đó là khoảng trống về đội ngũ nhân lực vừa hiểu công nghệ, vừa có khả năng sáng tạo và tư duy thị trường...

Trên thực tế, dù số hóa không phải đích đến của việc phát huy giá trị di sản trong kỷ nguyên số, nhưng đây là “đầu vào” cần thiết để tạo ra những giá trị mới. Cục trưởng Di sản Văn hóa Lê Thị Thu Hiền cho rằng, vấn đề cấp thiết hiện nay là xây dựng hệ thống dữ liệu đồng bộ trên phạm vi toàn quốc, có tiêu chuẩn chung để các địa phương cùng kết nối, chia sẻ.

Theo Thạc sĩ Phan Đình Dũng (Trường đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh), nên có bộ tiêu chuẩn quốc gia về số hóa di sản, với những quy định về chuẩn định dạng dữ liệu, độ phân giải, quy trình kiểm duyệt, tiêu chí bảo mật... Các tiêu chuẩn này nên tương thích với các khung quốc tế để tạo điều kiện kết nối, chia sẻ dữ liệu khi hợp tác, trao đổi. Cần hoàn thiện cơ chế pháp lý về bản quyền dữ liệu số di sản, tạo khung pháp lý minh bạch cho hợp tác công-tư.

Thạc sĩ Phan Đình Dũng cũng đề xuất nên có thêm chuyên ngành Quản lý di sản kỹ thuật số trong các cơ sở đào tạo, tổ chức những khóa bồi dưỡng, tập huấn về năng lực thực hành chuyển đổi số, góp phần lấp lỗ hổng về nguồn nhân lực di sản số.

Khi đã có dữ liệu và nguồn lực, bài toán đặt ra là phải chuyển hóa thành những sản phẩm có sức sống trong đời sống đương đại. Theo đạo diễn Đặng Lê Minh Trí, Việt Nam đang sở hữu “mỏ nội dung” khổng lồ, nhưng vẫn thiếu những “nhà máy” có khả năng chế biến tài nguyên ấy thành các tài sản sở hữu trí tuệ có giá trị. Ông cho rằng, quy trình này cần được thực hiện một cách bài bản.

Trên cơ sở tìm hiểu sâu về những giá trị cốt lõi của di sản, cần xác định được yếu tố có tiềm năng chuyển hóa đáp ứng được nhu cầu thị trường, từ đó dùng ngôn ngữ sáng tạo hiện đại để diễn tả mà không làm mất đi linh hồn của di sản, tiếp đó tạo ra sản phẩm có nhận dạng cụ thể, và đưa sản phẩm đến đúng thị trường, nền tảng, với chiến lược truyền thông và quản lý bản quyền rõ ràng.

Khi hoàn thiện được chuỗi giá trị này, di sản sẽ thật sự bước ra khỏi không gian lưu trữ để trở thành sản phẩm của công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo, phát huy giá trị bền vững trong kỷ nguyên số.

TRANG ANH

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/kich-hoat-tai-nguyen-di-san-trong-ky-nguyen-so-post974193.html