Kiểm toán năng lượng, mắt xích còn thiếu của Net Zero

Khi chuyển đổi xanh trở thành nghĩa vụ thì kiểm toán năng lượng cần là 'la bàn' cho doanh nghiệp thay vì chỉ làm đối phó. Dự thảo định mức kinh tế – kỹ thuật mới kỳ vọng sẽ xóa bỏ tình trạng 'kiểm toán giá rẻ', chuẩn hóa thị trường và biến các báo cáo kỹ thuật thành công cụ tối ưu chi phí thực thụ.

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh không còn là khẩu hiệu mà đã trở thành nghĩa vụ bắt buộc, kiểm toán năng lượng (KTNL) lẽ ra phải đóng vai trò là “la bàn” giúp doanh nghiệp định hướng lộ trình tối ưu hóa vận hành. Tuy nhiên, thực tế thị trường hiện nay đang cho thấy những dấu hiệu lệch trục nghiêm trọng, nơi các giá trị kỹ thuật cốt lõi thường bị đánh đổi bởi các cuộc đua về giá.

Thị trường ngàn khách, chất lượng trăm ngả

Theo quy định hiện hành, các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm, tiêu thụ từ 1.000 TOE/năm trở lên bắt buộc phải thực hiện KTNL định kỳ. TOE (Tonne of Oil Equivalent) được hiểu là tấn dầu tương đương, là đơn vị dùng để quy đổi các loại năng lượng khác nhau như điện, than, khí đốt, xăng dầu... về một đơn vị đo lường chung dựa trên nhiệt trị của dầu thô để dễ dàng quản lý và so sánh. Tại Việt Nam, theo quy định pháp luật, các doanh nghiệp tiêu thụ từ 1.000 TOE/năm trở lên được xếp vào nhóm "cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm" và bắt buộc phải kiểm toán năng lượng định kỳ.

Phần lớn các nhà máy nhiệt điện, xi măng và sắt thép phải kiểm kê phát thải khí nhà kính. Ảnh: TL

Phần lớn các nhà máy nhiệt điện, xi măng và sắt thép phải kiểm kê phát thải khí nhà kính. Ảnh: TL

Trong danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính tại Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg của Thủ tướng năm 2024, cả nước có có 2.171 cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính. Như vậy, với hàng ngàn doanh nghiệp thuộc diện này, đây là một thị trường dịch vụ đầy tiềm năng với sự tham gia của gần 50 đơn vị tư vấn tư nhân và 34 trung tâm tiết kiệm năng lượng, theo Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến Công, Bộ Công Thương.

Dù vậy, quy mô về số lượng không đồng thuận với chất lượng dịch vụ khi năng lực của các đơn vị này đang có sự phân hóa cực kỳ mạnh mẽ. Một bên là những đơn vị đầu tư bài bản về thiết bị đo kiểm và đội ngũ kỹ sư chuyên sâu; bên còn lại là những đơn vị cạnh tranh bằng cách cắt giảm tối đa chi phí để cung cấp những báo cáo mang tính “đủ hồ sơ”.

Hội thảo tham vấn “Xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật cho hoạt động tư vấn hiệu quả năng lượng tại Việt Nam” tại TPHCM và Hà Nội do Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công thương) phối hợp với Cục Năng lượng Đan Mạch và Đại sứ quán Đan Mạch tổ chức tuần qua, cho thấy tình trạng chất lượng KTNL không đồng đều, thậm chí có hiện tượng cạnh tranh bằng cách hạ giá và đặc biệt là thiếu tiêu chuẩn, định mức cụ thể.

Doanh nghiệp trong danh sách KTNL đứng trước một nghịch lý: chọn báo cáo giá rẻ để đối phó thủ tục hành chính, nhưng lại bỏ lỡ cơ hội tiết kiệm chi phí thực tế, hoặc có thể chi nhiều tiền hơn cho dịch vụ chất lượng mà không có thước đo nào để thẩm định sự xứng đáng.

Các chuyên gia quốc tế cho biết kinh nghiệm đến từ Hàn Quốc là kiểm soát chất lượng KTNL qua quy định thời gian và năng lực kiểm toán, Ấn Độ thì kết hợp cơ chế thị trường với hỗ trợ chi phí và chuẩn hóa theo ngành, Trung Quốc gắn kiểm toán với tuân thủ định mức năng lượng. Trong khi đó, châu Âu, như Đan Mạch, xây dựng khung pháp lý thống nhất, áp dụng hệ thống đo đếm chặt chẽ, chứng nhận kiểm toán viên và cơ chế đánh giá nhiều cấp để đảm bảo chất lượng và tránh cạnh tranh giá thấp.

Dựng lại “sàn chất lượng”

Trong chương trình tư vấn do Bộ Công Thương tổ chức với sự tham gia của một số tổ chức quốc tế nhằm “Xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật cho hoạt động tư vấn hiệu quả năng lượng tại Việt Nam”, bộ này đã công bố dự thảo định mức kinh tế - kỹ thuật. Theo đó, dự thảo nhắm trực diện vào việc chuẩn hóa ba cấu phần then chốt: lao động, thiết bị và vật tư. Điểm đột phá của dự thảo là cách phân nhóm doanh nghiệp theo mức tiêu thụ năng lượng (1.000 - 3.000 TOE, 3.000 - 10.000 TOE và trên 10.000 TOE) để phản ánh đúng mức độ phức tạp của hệ thống kỹ thuật thay vì chỉ chia theo cảm tính.

Đồ họa do AI thực hiện mô phỏng theo nội dung bài viết.

Đồ họa do AI thực hiện mô phỏng theo nội dung bài viết.

Đặc biệt, định mức lao động được quy định chặt chẽ. Với những doanh nghiệp lớn, riêng kỹ sư bậc 2 có thể cần tới 4.800 - 5.000 giờ công cho một dự án, tương đương hàng trăm ngày làm việc thực tế. Việc áp đặt số giờ công tối thiểu này đóng vai trò như một “hàng rào giá”, loại bỏ khả năng phá giá bằng cách cắt giảm nhân lực. Khi đó, giá dịch vụ sẽ phải quay về phản ánh đúng chi phí thực tế, buộc các đơn vị tư vấn phải cạnh tranh bằng năng lực chuyên môn thay vì cuộc đua xuống đáy về giá.

Thiết bị đo kiểm cũng được chuẩn hóa để chuyển dịch từ trạng thái “ước lượng” cảm tính sang “đo đếm”. Dự thảo yêu cầu sử dụng các thiết bị chuyên dụng như máy phân tích khí thải, camera nhiệt, đo lưu lượng siêu âm... Điều này không chỉ nâng cao độ tin cậy của báo cáo mà còn tạo ra rào cản kỹ thuật, sàng lọc những đơn vị tư vấn không có sự đầu tư nghiêm túc. Quan trọng hơn, dữ liệu đo đếm chính xác là nền tảng để doanh nghiệp xây dựng đường cơ sở năng lượng, một điều kiện tiên quyết để tham gia vào thị trường carbon và tiếp cận các dòng vốn xanh trong tương lai.

Đòn bẩy cho kinh tế xanh

Lợi ích lớn nhất mà định mức mới mang lại cho doanh nghiệp không phải là sự gò bó của quy định, mà là khả năng ra quyết định dựa trên dữ liệu định lượng. Khi biết rõ một dự án cần bao nhiêu giờ công và thiết bị, doanh nghiệp có cơ sở khoa học để lựa chọn đơn vị tư vấn thay vì dựa vào cảm tính. Một báo cáo KTNL chất lượng sẽ đi sâu vào chi tiết hiệu suất từng thiết bị, tính toán cụ thể suất đầu tư, thời gian hoàn vốn (ROI) và tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR).

Thực tế, chi phí năng lượng thường chiếm 10-30% giá thành sản xuất trong nhiều ngành công nghiệp. Việc cải thiện chỉ 5-10% hiệu suất năng lượng thông qua KTNL nghiêm túc có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm hàng tỉ đồng mỗi năm. Do đó, việc chi phí kiểm toán tăng lên là hoàn toàn hợp lý nếu đặt trong tương quan với khoản lợi nhuận mà nó mang lại. Mục tiêu cuối cùng là chuyển đổi tư duy của chủ doanh nghiệp: xem KTNL là một “khoản đầu tư sinh lời” thay vì một khoản “chi phí tuân thủ” vô bổ.

Trong hành trình tiến tới Net Zero, Việt Nam cần những công cụ đủ mạnh như định mức kinh tế - kỹ thuật này để biến các cam kết xanh thành những kết quả có thể đo đếm được bằng con số và dòng tiền và biến KTNL trở thành đòn bẩy thực sự cho nền kinh tế xanh.

Hồng Văn

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/kiem-toan-nang-luong-mat-xich-con-thieu-cua-net-zero/