Kiến nghị của Bộ Công an về thực phẩm chức năng

Bộ Công an kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về công bố sản phẩm thực phẩm chức năng...

Như PLO đã đưa tin, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an vừa ban hành Kết luận điều tra vụ án sản xuất hàng giả là thực phẩm và trốn thuế, đề nghị truy tố 8 bị can liên quan Công ty Asia sản xuất hàng giả cho Công ty cổ phần Tập đoàn Chị Em Rọt của Hằng Du Mục và Quang Linh Vlogs.

Theo đó, CQĐT đề nghị truy tố bị can Nguyễn Phong (Chủ tịch Công ty Asia) và 5 bị can khác về tội sản xuất hàng giả là thực phẩm. Đề nghị truy tố bị can Nguyễn Phạm Hồng Vy (Giám đốc Công ty Asia) về tội sản xuất hàng giả là thực phẩm và trốn thuế. Đề nghị truy tố bị can Nguyễn Thị Hồng Phượng (cựu kế toán trưởng Công ty Asia) về tội trốn thuế.

 Một buổi giới thiệu thực phẩm chức năng có Hằng Du Mục, Quang Linh Vlogs, Hoa hậu Thùy Tiên. Ảnh: PLO

Một buổi giới thiệu thực phẩm chức năng có Hằng Du Mục, Quang Linh Vlogs, Hoa hậu Thùy Tiên. Ảnh: PLO

Bất cập tự công bố tự chịu trách nhiệm

Trong vụ án này, CQĐT đã chỉ ra nhiều bất cập về quy định cho phép doanh nghiệp tự công bố, tự chịu trách nhiệm về chất lượng, thành phần các chất, tính năng, công dụng đối với đa số sản phẩm song thiếu cơ chế sàng lọc tiền kiểm, không gắn quy định trách nhiệm cụ thể của cơ quan quản lý nhà nước.

Điều này dẫn đến tình trạng nhiều sản phẩm “chỉ đăng ký cho có”, chưa đảm bảo chất lượng lưu hành trên thị trường. Các cá nhân, tổ chức đã lợi dụng để bỏ bớt các thành phần nguyên liệu chính tạo nên tính năng, công dụng của sản phẩm; thay vào đó sử dụng nguyên liệu rẻ tiền, không rõ nguồn gốc, thậm chí gây hại để thu lợi bất chính.

Bên cạnh đó, việc thực thi, hậu kiểm thực phẩm chức năng, thực phẩm bổ sung chưa hiệu quả. Nhiều thực phẩm được quảng bá, giới thiệu, công bố như “thuốc” nhưng chỉ đăng ký dạng thực phẩm bổ sung để né tránh các yêu cầu nghiêm ngặt về thử nghiệm lâm sàng, cấp phép lưu hành; gắn mác “hỗ trợ chữa bệnh”, nhưng không chịu sự quản lý chặt như dược phẩm.

Cùng với đó, cơ chế tự công bố bộc lộ việc thiếu “chốt chặn” kỹ thuật ban đầu để sàng lọc những hồ sơ bất thường. Việc công khai dữ liệu tự công bố cũng chưa được thực hiện đầy đủ để kiểm tra giám sát. Việc phân cấp, quản lý hồ sơ công bố gây phân tán thông tin dẫn đến nhiều đối tượng chỉ kiểm nghiệm qua loa vài chỉ tiêu, hoặc thậm chí thông đồng với các Trung tâm kiểm nghiệm được cấp phép hoạt động để mua bán các phiếu thử nghiệm cho kết quả “đẹp” nhằm hợp thức hóa hồ sơ.

“Thực tế, cơ quan quản lý chỉ phát hiện đến sai phạm sau khi sản phẩm lưu thông và chỉ khi người dân tố giác, báo tin đến cơ quan có thẩm quyền, dẫn đến sức khỏe người tiêu dùng bị lâm vào tình trạng rủi ro khi sử dụng sản phẩm trong thời gian dài đến khi bị phát hiện”, kết luận điều tra nêu rõ.

Cũng theo CQĐT, hệ thống pháp luật về lĩnh vực an toàn thực phẩm phân công nhiều bộ, ngành cùng quản lý An toàn thực phẩm như Bộ Y tế phụ trách thực phẩm chức năng, dinh dưỡng đặc biệt; Bộ Nông nghiệp và Môi trường phụ trách nông sản tươi sống; Bộ Công Thương phụ trách thực phẩm chế biến thường nhưng trên thực tế có sản phẩm đa công dụng, khó phân định.

Trong khi đó, cơ chế phối hợp giữa các lực lượng (Quản lý thị trường, Y tế, Hải quan, Thuế, Công an...) chưa thực sự chặt chẽ, thường xuyên và kịp thời, thiếu cơ sở dữ liệu dùng chung để chia sẻ thông tin vi phạm.

Xây dựng cơ sở dữ liệu

Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về công bố sản phẩm thực phẩm nhằm quản lý thống nhất thông tin về các sản phẩm thực phẩm đã được công bố và đang lưu hành trên thị trường. Đồng thời tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp và cơ quan quản lý dễ dàng tra cứu, giám sát.

Hệ thống cơ sở dữ liệu cần bao gồm các thông tin cơ bản như: thông tin doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm; hồ sơ tự công bố sản phẩm và bản đăng ký công bố sản phẩm; phiếu kết quả kiểm nghiệm của các cơ sở kiểm nghiệm được chỉ định; thông tin về thành phần, chỉ tiêu chất lượng, hàm lượng hoạt chất chính của sản phẩm; thông tin về nhãn sản phẩm, quảng cáo sản phẩm và công dụng được công bố; thông tin về kết quả thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm liên quan đến sản phẩm.

Theo kết luận điều tra, các bị can Nguyễn Phong và Nguyễn Phạm Hồng Vy đã chỉ đạo các bộ phận không xuất dù nguyên liệu như đã công bố mà sử dụng nguyên liệu thực tế có hàm lượng thấp hơn (dưới 70%) so với hồ sơ công bố.

Đồng thời, các bị can lập khống hồ sơ sản xuất nhằm che giấu việc sản xuất hàng giả, đối phó khi bị cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra. Tổng giá trị hàng giả của các sản phẩm là 6,6 tỉ đồng; tổng số tiền thu lợi bất chính từ 4 sản phẩm là 3,3 tỉ đồng.

Đối với sản phẩm kẹo Kera, công thức sản xuất thực tế gồm 29 thành phần và khối lượng 10 loại bột rau củ chỉ chiếm 0,747%. Các bị can vẫn chỉ đạo chuyển cho đơn vị lập hồ sơ thông tin chỉ còn 22 thành phần, nâng khống thành phần rau củ lên 28%.

Dù mang tên kẹo rau, thành phần nền để tạo cấu trúc sản phẩm thực tế lại là Sorbitol syrup 70% và đường cát sacharose, gelatin, pectin, nước RO cùng nhiều phụ gia tạo gel, điều vị, tạo màu, tạo đục và ổn định cấu trúc.

BÙI TRANG

Nguồn PLO: https://plo.vn/kien-nghi-cua-bo-cong-an-ve-thuc-pham-chuc-nang-post902466.html