Kiến tạo động lực phát triển văn hóa từ đột phá chuyển đổi số
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng của phát triển đất nước, yêu cầu đặt ra đối với lĩnh vực văn hóa không chỉ là bảo tồn, gìn giữ các giá trị truyền thống mà còn phải đổi mới phương thức quản lý, sáng tạo và khai thác nguồn lực văn hóa, tạo ra những giá trị mới, đóng góp thiết thực vào tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.
Đây là vấn đề trọng tâm được các nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia trao đổi tại Hội thảo khoa học "Văn hóa trong kỷ nguyên phát triển mới: Phát huy nguồn lực nội sinh, kiến tạo động lực tăng trưởng quốc gia", do Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN tổ chức sáng 21/10 tại Hà Nội.
Hội thảo mở đầu chuỗi hoạt động của Diễn đàn Nhân văn Mùa Thu Hà Nội 2026, sáng kiến học thuật do Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN tổ chức, diễn ra từ ngày 21 đến 28/10.
Khơi thông nguồn lực, phát huy sức mạnh văn hóa
Phát biểu khai mạc hội thảo, PGS-TS Đặng Thị Thu Hương (Phó Hiệu trưởng Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN) nhấn mạnh, trong lịch sử dựng nước và giữ nước, văn hóa luôn là cội nguồn sức mạnh, nền tảng tinh thần, sợi dây gắn kết cộng đồng và là điểm tựa để dân tộc Việt Nam vượt qua những thử thách lớn lao. Những giá trị như lòng yêu nước, tinh thần nhân ái, ý chí tự cường, truyền thống hiếu học, sức sáng tạo và khát vọng vươn lên tiếp tục tạo nên sức mạnh tinh thần để đất nước tự tin bước vào tương lai.

PGS-TS Đặng Thị Thu Hương (Phó Hiệu trưởng Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN) phát biểu khai mạc hội thảo
Theo PGS-TS Đặng Thị Thu Hương, trong bối cảnh đất nước hướng đến những mục tiêu phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, nâng cao năng suất lao động hay đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, mà còn phải tạo dựng những nền tảng giá trị, năng lực sáng tạo và sức mạnh tinh thần đủ vững chắc để bảo đảm sự phát triển lâu dài của quốc gia.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã thể hiện một tầm nhìn quan trọng: Văn hóa không đứng bên ngoài quá trình phát triển, cũng không phải chỉ là kết quả mà sự phát triển kinh tế mang lại. Văn hóa cần hiện diện trong chính quá trình phát triển, góp phần định hướng các quyết sách, khơi dậy sức sáng tạo của con người và tạo nên những giá trị bền vững.
Tinh thần này cũng gắn với yêu cầu đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị. Trong lĩnh vực văn hóa, chuyển đổi số không chỉ mở rộng khả năng bảo tồn, tiếp cận di sản mà còn tạo điều kiện đổi mới phương thức sáng tạo, phổ biến và khai thác các giá trị văn hóa, từng bước hình thành những nguồn lực phát triển mới.

Quang cảnh hội thảo
Nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh tư duy từ quản lý văn hóa sang kiến tạo phát triển, PGS-TS Đặng Thị Thu Hương cho rằng, một di sản không chỉ cần được bảo tồn mà còn cần được nghiên cứu, số hóa, kể lại bằng những phương thức mới và đưa đến gần hơn với công chúng. Một giá trị văn hóa không chỉ cần được khẳng định mà còn cần được lan tỏa trong đời sống đương đại. Một ý tưởng sáng tạo không chỉ cần được khuyến khích mà còn cần có môi trường để trở thành sản phẩm có giá trị, có sức cạnh tranh và đóng góp cho nền kinh tế.
Từ cách tiếp cận đó, phát triển công nghiệp văn hóa cần được xác định là một hướng đi quan trọng để chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành động lực tăng trưởng mới. Tuy nhiên, theo PGS-TS Đặng Thị Thu Hương, điều cần hướng tới là sự kết hợp hài hòa giữa giá trị kinh tế và giá trị xã hội, giữa sáng tạo và trách nhiệm, giữa hội nhập quốc tế với gìn giữ bản sắc dân tộc. Để thực hiện được điều này, hoàn thiện thể chế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn khơi thông nguồn lực, thúc đẩy sáng tạo, tạo môi trường thuận lợi để các chủ thể văn hóa và doanh nghiệp cùng phát triển.
Chuyển từ số hóa di sản sang kiến tạo giá trị phát triển
Đi sâu vào những yêu cầu đặt ra đối với chuyển đổi số văn hóa, PGS-TS Bùi Hoài Sơn (Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương) nêu 5 thông điệp quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ bảo tồn, lưu giữ các giá trị văn hóa sang kiến tạo những nguồn lực phát triển mới.
Trong đó, ông nhấn mạnh, chuyển đổi số văn hóa trước hết là chuyển đổi tư duy phát triển, không đơn thuần là chuyển đổi công nghệ, đồng thời đặt ra yêu cầu dữ liệu văn hóa phải được nhìn nhận như một nguồn lực chiến lược và một bộ phận của hạ tầng phát triển quốc gia. Đây là cơ sở để chuyển từ những hoạt động số hóa riêng lẻ sang hình thành hệ sinh thái dữ liệu văn hóa có khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả.

PGS-TS Bùi Hoài Sơn (Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương) phát biểu tại hội thảo
Cùng với yêu cầu mở dữ liệu để khơi thông sáng tạo, nhưng phải bảo vệ bản quyền, quyền của cộng đồng và chủ quyền văn hóa số, PGS-TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh sự cần thiết phải biến dữ liệu văn hóa thành động lực sáng tạo, thành sản phẩm và cơ hội phát triển mới.
Để hiện thực hóa những định hướng này, ông đặc biệt lưu ý, đột phá quyết định nằm ở tổ chức thực hiện, ở con người và ở cách đánh giá kết quả. Theo đó, chuyển đổi số văn hóa không chỉ hướng tới những thành tựu về công nghệ, hạ tầng dữ liệu mà quan trọng hơn là những giá trị thực chất được tạo ra cho đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước.
Đề cập tới những yêu cầu cốt lõi của quá trình chuyển đổi số văn hóa, PGS-TS Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh: "Chúng ta không số hóa để hoàn thành một chỉ tiêu, mà để di sản được hiểu và tiếp tục sống; không xây dựng những kho dữ liệu biệt lập, mà kiến tạo một hạ tầng tri thức chung; và không sử dụng công nghệ để thay thế văn hóa sống, mà để con người có thêm khả năng gìn giữ, trao truyền và sáng tạo văn hóa".

TS Nguyễn Văn Anh (Trưởng khoa Lịch sử và Văn hóa, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN) phát biểu tại hội thảo
Liên quan đến điều kiện bảo đảm chất lượng và khả năng kết nối dữ liệu, TS Nguyễn Văn Anh (Trưởng khoa Lịch sử và Văn hóa, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN) đặt vấn đề cấp thiết về xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia cho việc số hóa di sản.
Theo ông, việc thiếu quy định thống nhất về quy trình, phương pháp, thiết bị, chất lượng dữ liệu, lưu trữ và khai thác đang dẫn đến tình trạng sản phẩm số hóa thiếu đồng bộ, khó liên thông, có nguy cơ gây lãng phí nguồn lực. Vì vậy, cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn bao quát từ thu thập dữ liệu, chuẩn hóa siêu dữ liệu, lưu trữ dài hạn đến khai thác và kết nối mở; đồng thời hoàn thiện quy chuẩn kỹ thuật và định mức kinh tế - kỹ thuật để tạo cơ sở triển khai các dự án số hóa di sản thống nhất, hiệu quả.

GS-TS Lâm Thị Mỹ Dung (Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN) phát biểu tại hội thảo
Bên cạnh yêu cầu về công nghệ và tiêu chuẩn kỹ thuật, vấn đề bảo đảm quyền và trách nhiệm trong quá trình số hóa di sản cũng được các chuyên gia đặc biệt quan tâm.
Trình bày tham luận về số hóa di sản khảo cổ học, GS-TS Lâm Thị Mỹ Dung (Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQGHN) nhấn mạnh, số hóa là yêu cầu cấp bách để bảo tồn những di sản khảo cổ độc bản, không thể tái tạo và có nguy cơ bị hủy hoại, đặc biệt là di sản thiêng.
Tuy nhiên, số hóa không đơn thuần là thao tác sao chép mà còn là một giai đoạn mới của quá trình di sản hóa, đòi hỏi phân biệt rõ quyền đối với hiện vật gốc, bản số và việc khai thác dữ liệu. Theo đó, mở rộng khả năng tiếp cận phải gắn với trách nhiệm, trên nguyên tắc hài hòa lợi ích, đồng trách nhiệm và tôn trọng giá trị di sản, nhất là đối với vật thiêng, không gian thiêng và di cốt người.
Việc chia sẻ tri thức không thể biến di sản thiêng thành dữ liệu bị khai thác vô hạn, tách rời ký ức, niềm tin và sự tôn nghiêm của cộng đồng. Từ đó, nghiên cứu đề xuất xây dựng hướng dẫn đạo đức đối với các nhóm di sản nhạy cảm, chuẩn hóa thỏa thuận về quyền dữ liệu và chia sẻ lợi ích, đồng thời thí điểm cơ chế phân tầng tiếp cận gắn với tham vấn cộng đồng và đánh giá tác động.
Các tham luận khác tại hội thảo cũng tập trung làm rõ những vấn đề về quản trị dữ liệu văn hóa quốc gia, phát triển hạ tầng số và kinh nghiệm quốc tế trong chuyển hóa tài nguyên di sản số thành sản phẩm công nghiệp văn hóa. Những trao đổi này góp phần làm rõ yêu cầu gắn chuyển đổi số với hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa dữ liệu, phát triển nguồn nhân lực và cơ chế khai thác, chia sẻ lợi ích, để nguồn lực văn hóa thực sự được phát huy, đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước.

