Kiến tạo hệ sinh thái nông nghiệp tuần hoàn, bền vững

Cà Mau không đặt mục tiêu tăng diện tích bằng mọi giá mà ưu tiên đồng nhất và truy xuất được; đồng thời gắn sản xuất với doanh nghiệp, tiêu chuẩn và nhu cầu thị trường.

Giữa những biến động khắc nghiệt của biến đổi khí hậu và áp lực về hướng đi phát triển mang tính bền vững, thuận thiên, mô hình tôm - lúa tại Cà Mau là hướng đi đầy hiệu quả và sống động cho hướng sản xuất theo cách “thuận thiên”. Không chống lại quy luật tự nhiên, người dân vùng đất Mũi đã khéo léo nương theo nhịp điệu mặn - ngọt để kiến tạo nên một hệ sinh thái nông nghiệp tuần hoàn, bền vững và mang lại sinh kế lâu dài.

Con tôm càng xanh sau khi phân loại để chế biến. Ảnh Tuấn Phi – TTXVN 

Con tôm càng xanh sau khi phân loại để chế biến. Ảnh Tuấn Phi – TTXVN 

*Phát huy lợi thế hệ sinh thái mặn - ngọt

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, diện tích lúa - tôm đạt trên 204.100 ha tại 6 tỉnh thành ven biển. Riêng tỉnh Cà Mau hiện có khoảng 90.000 ha lúa trên đất nuôi tôm.

Trong giai đoạn 2020 - 2025, diện tích lúa - tôm của Cà Mau đã tăng từ 77.266 ha lên 88.252 ha, với năng suất lúa bình quân đạt khoảng 5,1 tấn/ha (tăng gần 26%). Giá thành sản xuất lúa dao động từ 3.500 - 4.200 đồng/kg, mang lại lợi nhuận khoảng 35 - 40 triệu đồng/ha với tỷ suất lợi nhuận đạt 50 - 55%. Đặc biệt, tại các địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, việc nâng cao hiệu quả sản xuất lúa - tôm và giảm chi phí đầu vào có ý nghĩa đặc biệt thiết thực đối với đời sống người dân.

Đánh giá về định hướng phát triển, ông Nguyễn Bình Thuận, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau cho biết, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao của thị trường, nhiệm vụ đặt ra không chỉ là tăng sản lượng mà quan trọng hơn là giảm chi phí, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao thu nhập cho nông dân.

Nhìn nhận thẳng thắn những hạn chế, ông Nguyễn Bình Thuận chỉ rõ sản xuất lúa - tôm thực tế vẫn còn phân tán, vùng nguyên liệu chưa đồng đều, hạ tầng và năng lực tổ chức sản xuất ở một số nơi còn hạn chế, liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa thật sự bền vững. Do đó, việc tháo gỡ khó khăn thực tiễn, ứng dụng các giải pháp khoa học - công nghệ và tham mưu cơ chế, chính sách phù hợp là điều vô cùng cần thiết để tạo điều kiện cho hệ thống lúa - tôm phát triển ổn định, trên tinh thần “Thuận thiên - hợp tác - đổi mới - cùng phát triển”.

Ông Nguyễn Trần Thức, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Cà Mau nhấn mạnh: “Giai đoạn tới, mục tiêu không chỉ là duy trì hay mở rộng sản xuất, mà là chuyển từ mô hình sản xuất sang hệ thống đa giá trị. Phát triển lúa - tôm cần dựa trên điều kiện đất, nước và hạ tầng, tổ chức vùng nguyên liệu tốt hơn, củng cố vai trò của hợp tác xã và đưa doanh nghiệp tham gia ngay từ đầu chuỗi. Khi chất lượng, truy xuất nguồn gốc và thị trường được kết nối với nhau, lợi thế sinh thái mới thực sự có thể trở thành giá trị của thương hiệu "Lúa thơm - Tôm sạch".”

Theo định hướng giai đoạn 2026-2030, Cà Mau không đặt mục tiêu tăng diện tích bằng mọi giá mà ưu tiên hoàn thiện hạ tầng giao thông, thủy lợi và điện; nâng khả năng chủ động cấp - thoát nước và quản lý mặn - ngọt; tổ chức vùng nguyên liệu đủ lớn, đồng nhất và truy xuất được; đồng thời gắn sản xuất với doanh nghiệp, tiêu chuẩn và nhu cầu thị trường.

*Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và liên kết chuỗi giá trị

Tại Cà Mau, định hướng xây dựng thương hiệu “Lúa thơm - Tôm sạch” gắn với “Lúa sinh thái Cà Mau” đi cùng yêu cầu về chất lượng và tính ổn định của vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn sản phẩm và liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Cà Mau đăng ký 54.680 ha tham gia Đề án phát triển bền vững một triệu héc-ta lúa chất lượng cao và phát thải thấp đến năm 2030, trong đó 14.700 ha thuộc vùng lúa - tôm Bắc Cà Mau.

Chia sẻ về vấn đề này, ông Lê Thanh Tùng, Chủ tịch Hiệp hội Ngành hàng Lúa gạo Việt Nam (VIETRISA) nhấn mạnh: “Điều quan trọng là không chỉ bán lúa và tôm như hai sản phẩm riêng lẻ, mà phải biến lợi thế của cả hệ sinh thái lúa - tôm thành giá trị thị trường. Thông điệp ‘Một vùng đất - hai vụ mùa - hai sản phẩm - một hệ sinh thái’ cần được kể thành một câu chuyện thương mại có thể kiểm chứng bằng chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn. Khi thị trường nhận diện và trả giá cho những giá trị đó, người sản xuất và hợp tác xã mới thực sự được hưởng lợi từ lợi thế sinh thái của mình”.

TS. Madonna Casimero, chuyên gia Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) cũng khẳng định, việc nhân rộng lúa - tôm cần một cách tiếp cận hệ thống đồng bộ giữa khoa học, sinh thái, tổ chức sản xuất và thị trường. Song song đó, nhiều công cụ số tiên tiến đang được phát triển và áp dụng như Rice Crop Manager (RCM), cảm biến nước thời gian thực, trợ lý AI, khuyến nông số, bản đồ thích nghi lúa - tôm, CS-MAP, WebGIS quản lý rủi ro khí hậu và nền tảng EasyFarm giúp kết nối nông dân với các dịch vụ cơ giới, vật tư và thị trường tiêu thụ...

Theo bà Madonna Casimero, công nghệ chỉ là một phần của quá trình chuyển đổi. Muốn phát triển lúa-tôm bền vững cần gắn khoa học với sản xuất, công nghệ với dịch vụ, sản phẩm với thị trường và các sáng kiến với nguồn lực đầu tư. Quan trọng là khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và giá trị sản phẩm trên thị trường, mang lại giá trị thiết thực và bền vững cho người nông dân.

Ông Võ Đức Toàn, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Hòa Phát (xã Hồng Dân, tỉnh Cà Mau) chia sẻ, nông dân quan tâm nhất là giải pháp mới phải giúp giảm chi phí giống, phân bón, công lao động và hạn chế rủi ro. Để kỹ thuật tiến bộ duy trì lâu dài, hợp tác xã rất cần các dịch vụ cơ giới phù hợp, sự hỗ trợ kỹ thuật thường xuyên và sự đồng hành tiêu thụ ổn định từ phía doanh nghiệp, tạo tâm lý yên tâm cho người dân trong quá trình sản xuất và nâng cao giá trị nông sản.

Bên cạnh đó, ông Nông Văn Thạch, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp tổng hợp Ba Đình (xã Vĩnh Lộc, tỉnh Cà Mau) cho biết, để thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, nông dân không thể canh tác theo tập quán cũ mà phải chủ động thay đổi tư duy, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và cơ giới hóa vào đồng ruộng. Việc tuân thủ chặt chẽ lịch thời vụ, quản lý nguồn nước mặn - ngọt linh hoạt theo diễn biến thực tế, kết hợp giảm lượng giống và phân bón hóa học không chỉ giúp giảm chi phí đầu vào, hạn chế rủi ro thiên tai và dịch bệnh mà còn bảo vệ hệ sinh thái đất, nước cho cả hai vụ lúa và tôm.

Ông Nông Văn Thạch cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc gắn kết chặt chẽ với hợp tác xã và doanh nghiệp từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, xem đây là chìa khóa then chốt giúp nông dân yên tâm sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản và xây dựng thương hiệu vững chắc cho mô hình lúa - tôm thích ứng bền vững.

Lão nông Nguyễn Văn Trung (xã Phước Long, tỉnh Cà Mau) cho biết, từ khi chuyển sang sản xuất tôm - lúa, đời sống kinh tế gia đình từng bước ổn định; việc đưa giống lúa ST vào canh tác đã giúp nâng cao hiệu quả sản xuất. Từ thực tiễn đó, ông mong muốn Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâm đầu tư hạ tầng giao thông, điện, thủy lợi; nhất là tăng cường hơn nữa sự liên kết trong tiêu thụ lúa gạo giữa nông dân với doanh nghiệp… tạo điều kiện để nông sản vùng sâu, vùng xa thuận lợi trong tiêu thụ, tránh tình trạng được mùa, mất giá và ngược lại.

TS. Madonna Casimero chia sẻ: “Nhân rộng lúa - tôm không nên được hiểu là nhân rộng một công nghệ đơn lẻ. Điều quan trọng là xây dựng một cách tiếp cận hệ thống, trong đó khoa học, điều kiện sinh thái, tổ chức sản xuất và thị trường được xem xét cùng nhau. Các giải pháp cần được thử nghiệm và điều chỉnh theo từng bối cảnh cụ thể; đồng thời, hợp tác và học hỏi giữa các quốc gia có thể giúp những đổi mới phù hợp được nhân rộng nhanh hơn. Kinh nghiệm của Việt Nam về hệ thống lúa - tôm cũng có nhiều giá trị để chia sẻ trong khu vực”.

Danh Chanh Đa

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/kien-tao-he-sinh-thai-nong-nghiep-tuan-hoan-ben-vung/438863.html