Kiến tạo năng lực cạnh tranh quốc gia

Suốt gần 10 năm qua, câu chuyện gỡ 'thẻ vàng' đối với thủy sản khai thác Việt Nam do Ủy ban châu Âu lo ngại khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) chưa khi nào bớt nóng.

Đó là cả một quá trình kiên trì hoàn thiện thể chế, thay đổi phương thức quản lý nghề cá, nâng cao nhận thức của ngư dân; đồng thời tiến hành hàng loạt cuộc đối thoại, giải trình và vận động với các cơ quan chức năng của Liên minh châu Âu. Trong hành trình đó, các cơ quan đại diện Việt Nam ở châu Âu đã và đang liên tục cập nhật thông tin, trao đổi với đối tác, giải thích những nỗ lực của Việt Nam và thúc đẩy đối thoại nhằm tạo sự thấu hiểu, đồng thuận, giúp thủy sản Việt Nam giữ được thị trường, duy trì niềm tin của đối tác.

Từ câu chuyện IUU có thể thấy, ngoại giao kinh tế không còn đơn thuần là tìm kiếm thêm thị trường hay hỗ trợ doanh nghiệp ký kết hợp đồng. Trong một thế giới các tiêu chuẩn xanh, quy định môi trường ngày càng nhiều, các yêu cầu truy xuất nguồn gốc và những hàng rào kỹ thuật ngày càng phức tạp, ngoại giao đang trở thành một phần của năng lực cạnh tranh quốc gia.

Nếu câu chuyện của ngành thủy sản cho thấy công tác ngoại giao hỗ trợ bảo vệ thị trường thì hành trình vươn ra thế giới của Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) lại cho thấy ngoại giao trong vai trò góp phần xây dựng vị thế cho doanh nghiệp. Sau hơn hai thập niên đầu tư ra nước ngoài, Viettel đã hiện diện tại nhiều quốc gia ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ… Thành công ấy đến từ nội lực của doanh nghiệp, nhưng cũng được hỗ trợ bởi nền tảng quan hệ đối ngoại mà Việt Nam đã dày công xây dựng. Bởi trong môi trường quốc tế, doanh nghiệp không chỉ mang theo sản phẩm, công nghệ hay nguồn vốn. Phía sau doanh nghiệp còn là uy tín quốc gia, mức độ tin cậy trong quan hệ song phương và khả năng kết nối của hệ thống đối ngoại.

Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao, năm 2025, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã triển khai gần 500 hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch và kết nối khoảng 100 thỏa thuận hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra, giá trị lớn nhất không nằm ở số lượng sự kiện mà ở khả năng chuyển hóa những mối quan hệ đối ngoại thành lợi ích phát triển cụ thể. Hàng hóa Việt Nam đã có mặt ở hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới. Điều các doanh nghiệp cần không chỉ thông tin về thị trường hiện tại mà còn là những tín hiệu của tương lai. Một quy định mới về thuế carbon, một tiêu chuẩn môi trường mới, một thay đổi trong chính sách công nghệ hay chuỗi cung ứng nếu được nhận diện sớm vài tháng có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh rất lớn. Ngược lại, nếu phát hiện quá muộn, doanh nghiệp có thể đánh mất thị trường đã gầy dựng trong nhiều năm.

Vì vậy, một trong những yêu cầu quan trọng nhất đối với ngành ngoại giao trong giai đoạn tới là nâng cao năng lực dự báo từ thực tiễn địa bàn. Các cơ quan đại diện cần trở thành những "trạm radar" chiến lược của nền kinh tế, không chỉ phản ánh tình hình mà còn phát hiện xu hướng, cảnh báo sớm rủi ro và đề xuất giải pháp chính sách. Bên cạnh đó, ngành ngoại giao cần nỗ lực nhiều hơn trong việc đồng hành với doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, chuyển hóa uy tín và vị thế của Việt Nam thành những giá trị phát triển cụ thể, bền vững và lâu dài.

Kiến tạo môi trường phát triển, đóng góp thiết thực vào mục tiêu tăng trưởng 2 con số, đó chính là những kỳ vọng của Đảng, Nhà nước, người dân và doanh nghiệp đối với ngành ngoại giao trong giai đoạn phát triển mới.

MINH DUY

Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/kien-tao-nang-luc-canh-tranh-quoc-gia-post864967.html