Kiến tạo sự phát triển ngành dầu khí trong giai đoạn mới

Theo đại biểu, Luật Dầu khí (sửa đổi) không chỉ sửa đổi các quy định về hoạt động dầu khí truyền thống mà còn từng bước mở ra không gian phát triển mới của ngành.

Mở ra không gian phát triển mới 

Chiều 8/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Dầu khí (sửa đổi).

Đại biểu Trịnh Xuân An - đoàn Đồng Nai.

Đại biểu Trịnh Xuân An - đoàn Đồng Nai.

Tại phiên họp, các đại biểu đánh giá cao Chính phủ, Bộ Công Thương, cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan thẩm tra đã tiếp thu nghiêm túc nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật. Dự thảo đã có nhiều chỉnh lý quan trọng như tiếp tục làm rõ phạm vi điều chỉnh của Luật, rà soát mối quan hệ với các luật chuyên ngành, hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền giữa Chính phủ, Bộ Công Thương và Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam. Những chỉnh lý này góp phần nâng cao tính thống nhất và tính khả thi của dự thảo Luật.

Cơ bản nhất trí với sự cần thiết sửa đổi Luật Dầu khí, đại biểu Trịnh Xuân An - đoàn Đồng Nai nhận định, điểm đáng chú ý nhất của dự thảo lần này là không chỉ sửa đổi các quy định về hoạt động dầu khí truyền thống mà còn từng bước mở ra không gian phát triển mới của ngành thông qua các quy định về CCS, năng lượng ngoài khơi và dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao. "Điều đó thể hiện tư duy chuyển từ quản lý hoạt động dầu khí sang kiến tạo sự phát triển của ngành dầu khí trong giai đoạn mới" - đại biểu Trịnh Xuân An cho biết. 

Về bảo đảm quốc phòng, an ninh và an toàn hoạt động dầu khí, đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An đồng tình với cách thiết kế của dự thảo khi tiếp tục khẳng định tại Điều 6 nguyên tắc bảo đảm độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong toàn bộ hoạt động dầu khí; đồng thời tiếp tục giữ ở cấp có thẩm quyền những quyết định liên quan trực tiếp đến chủ quyền, lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt, đấu thầu vì lý do quốc phòng, an ninh và các vấn đề ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia.

Theo đại biểu, đây là cách tiếp cận phù hợp. Hoạt động dầu khí của nước ta chủ yếu diễn ra trên biển. Mỗi công trình dầu khí, mỗi giàn khoan hay tuyến ống không chỉ có giá trị kinh tế mà còn góp phần khẳng định và duy trì sự hiện diện của Việt Nam trên các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền. "Vì vậy, Luật Dầu khí không chỉ là đạo luật về khai thác tài nguyên mà còn là một công cụ pháp lý quan trọng góp phần thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa" - đại biểu Trịnh Xuân An nhấn mạnh. 

Về chính sách phát triển dịch vụ dầu khí, đại biểu Trịnh Xuân An nêu, Khoản 13. Điều 3: Dịch vụ dầu khí là các hoạt động dịch vụ thương mại, kỹ thuật, công nghệ phục vụ cho điều tra cơ bản về dầu khí, hoạt động dầu khí và hoạt động CCS.

Đồng thời, đại biểu đoàn Đồng Nai đánh giá cao việc dự thảo đã bổ sung Điều 52 về dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao. Đây là một bước tiến quan trọng vì lần đầu tiên Luật dành một điều khoản riêng để đề cập đến lĩnh vực có vai trò quyết định năng lực cạnh tranh của ngành dầu khí trong tương lai.

Dự thảo sau tiếp thu đã chuyển từ quy định "ưu tiên phát triển dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao" sang khuyến khích sử dụng hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp trong nước. Đây là hướng tiếp thu tích cực. Tuy nhiên, đại biểu lưu ý, khuyến khích sử dụng dịch vụ trong nước và phát triển ngành dịch vụ dầu khí là hai chính sách khác nhau.

Vì vậy, đại biểu đề nghị, nghiên cứu bổ sung các chính sách về phát triển doanh nghiệp dịch vụ dầu khí, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và từng bước hình thành hệ sinh thái dịch vụ dầu khí có khả năng tham gia chuỗi cung ứng khu vực và quốc tế. Theo tôi, đây mới là nền tảng lâu dài để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dầu khí Việt Nam.

"Muốn doanh nghiệp Việt Nam cung cấp được dịch vụ kỹ thuật dầu khí chất lượng cao thì trước hết phải có doanh nghiệp mạnh, có công nghệ, có nguồn nhân lực chất lượng cao và có năng lực đổi mới sáng tạo" - đại biểu Trịnh Xuân An nói.

Quản trị theo hiệu quả và rủi ro

Góp ý tại phiên họp, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn - đoàn TP. Hải Phòng cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Dầu khí theo Tờ trình số 409/TTr-CP của Chính phủ và nội dung Báo cáo thẩm tra số 725/BC-UBKTTC16 của Ủy ban Kinh tế và Tài chính; đánh giá cao Báo cáo số 644/BC-BCT của Bộ Công Thương đã tiếp thu, giải trình nghiêm túc ý kiến đại biểu tại phiên thảo luận tổ.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn - đoàn TP. Hải Phòng.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn - đoàn TP. Hải Phòng.

Theo đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn, thực tế cho thấy sản lượng nhiều mỏ hiện hữu đang suy giảm; các mỏ mới chủ yếu là mỏ nhỏ, cận biên, trong khi tiềm năng còn lại tập trung ngày càng nhiều ở vùng nước sâu, xa bờ, địa chất phức tạp. "Điều đó đòi hỏi pháp luật phải chuyển mạnh từ quản lý nặng về trình tự, thủ tục sang quản trị theo hiệu quả và rủi ro; nếu không, chúng ta có nguy cơ có tài nguyên nhưng không thể thương mại hóa tài nguyên" - ông Sơn nói.

Về cơ chế đối với mỏ khai thác tận thu: thủ tục lựa chọn nhà đầu tư có nguy cơ làm mất chính phần tài nguyên cần tận thu (Điều 30), đại biểu đề nghị sửa Điều 30 theo hướng: Xác lập nguyên tắc bảo đảm liên tục khai thác là ưu tiên hàng đầu; cho phép chuẩn bị phương án tiếp quản song song ngay từ khi quyết định phương án, không chờ đến mốc 3 tháng và quy định rõ mốc khởi động không phụ thuộc vào việc nhà thầu hiện hữu có trình đề xuất hay không. Đồng thời, cơ chế cho dự án khai thác tận thu tại khoản 5 Điều 30 cần được ban hành đồng thời với hiệu lực của Luật, tránh khoảng trống pháp lý.

Về cơ chế quyết định đầu tư và chấp nhận rủi ro: biên độ điều chỉnh kế hoạch đại cương phát triển mỏ, kế hoạch phát triển mỏ và trách nhiệm người ra quyết định (các Điều 35, 36, 37), theo đại biểu, dự thảo hiện xác định trường hợp phải điều chỉnh kế hoạch đại cương phát triển mỏ (ODP), kế hoạch phát triển mỏ (FDP) chủ yếu bằng việc liệt kê hạng mục công trình và ngưỡng tăng tổng mức đầu tư.

Ông Sơn đề nghị chuyển mạnh hơn sang tiêu chí về mức độ trọng yếu: Chỉ yêu cầu trình điều chỉnh khi thay đổi đáng kể mục tiêu phát triển mỏ, trữ lượng có thể thu hồi, hệ số thu hồi, an toàn, môi trường hoặc hiệu quả kinh tế; các điều chỉnh kỹ thuật trong phạm vi đã được phê duyệt giao Tập đoàn và nhà thầu chủ động quyết định, chịu trách nhiệm. 

Về hoạt động thu giữ, vận chuyển và lưu trữ carbon (CCS): Tạo ngành công nghiệp mới nhưng không để lại nghĩa vụ môi trường dài hạn cho Nhà nước (Chương VIII), đại biểu đoàn Hải Phòng cho rằng, CCS mở ra khả năng tái sử dụng mỏ cạn kiệt và hạ tầng dầu khí hiện hữu, nhưng đồng thời phát sinh nghĩa vụ giám sát kéo dài hàng chục năm, kể cả sau khi hợp đồng dầu khí chấm dứt.

Vì vậy, đại biểu đề nghị Luật quy định nguyên tắc bắt buộc về ký quỹ, bảo đảm tài chính hoặc bảo hiểm trách nhiệm tại Điều 49; mức cụ thể giao Chính phủ quy định. Đây là nghĩa vụ tài sản chứ không đơn thuần là vấn đề kỹ thuật; nếu Luật không đặt nguyên tắc, sẽ có nguy cơ nghĩa vụ tài chính dài hạn cuối cùng chuyển sang Nhà nước.

Đồng thời, đề nghị đưa vào Điều 51 nguyên tắc chuyển giao tín chỉ các-bon ra nước ngoài phải tránh tính trùng và không ảnh hưởng đến Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam. Ngoài ra, đề nghị rà soát kỹ thuật lập pháp về cấu trúc khoản và dẫn chiếu tại các Điều 14, 15, 23, 34, 46, 51 và 59; đồng thời bổ sung tại Điều 53 nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm cơ sở thực hiện.

Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn nhấn mạnh, Luật Dầu khí lần này phải tạo được sự chuyển đổi thực chất từ quản lý chủ yếu bằng trình tự, thủ tục sang quản trị theo hiệu quả, rủi ro và trách nhiệm. Phân cấp phải đi cùng quyền quyết định; chấp nhận rủi ro phải đi cùng cơ chế kiểm soát; tạo thuận lợi cho đầu tư phải đi cùng bảo vệ tài nguyên và lợi ích quốc gia. Có như vậy, sửa Luật lần này mới thực sự tháo được điểm nghẽn để đưa tài nguyên dưới lòng đất thành nguồn lực cho tăng trưởng, an ninh năng lượng và ngân sách quốc gia.

Đại biểu Quốc hội cho rằng, dự thảo Luật lần này không chỉ sửa đổi các quy định về hoạt động dầu khí mà còn từng bước kiến tạo khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển của ngành dầu khí trong giai đoạn chuyển đổi năng lượng và hội nhập quốc tế.

Quỳnh Nga

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/kien-tao-su-phat-trien-nganh-dau-khi-trong-giai-doan-moi-468461.html