Kinh nghiệm tăng trưởng cao từ hành trình của Hàn Quốc
Theo chuyên gia Hàn Quốc, hành trình bứt phá khỏi bẫy thu nhập trung bình của Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt quyết định.
Yêu cầu mới với tăng trưởng
Thế giới đang diễn ra trong giai đoạn mà những quan niệm truyền thống về phát triển đang được xem xét lại một cách sâu sắc. Biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, chuyển dịch năng lượng, già hóa dân số, những thay đổi nhanh chóng của công nghệ và trí tuệ nhân tạo cùng với những biến động của thương mại và chuỗi giá trị toàn cầu đang làm thay đổi căn bản môi trường phát triển của các quốc gia.
Trong bối cảnh đó, câu hỏi đặt ra đối với các nền kinh tế đang phát triển không còn chỉ là “làm thế nào để tăng trưởng nhanh hơn” mà quan trọng hơn là “làm thế nào để tăng trưởng tốt hơn và bền vững hơn”.
Đó phải là sự tăng trưởng dựa vào năng suất lao động, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên; nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Quan trọng hơn, bảo đảm thành quả phát triển được chia sẻ rộng rãi, không để ai bị bỏ lại phía sau, PGS.TS. Hoàng Khắc Lịch, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội, nhấn mạnh tại Hội thảo quốc tế về Kinh tế phát triển lần thứ nhất (EDAST 2026) mới đây.
Theo ông, đối với Việt Nam, câu hỏi này càng có ý nghĩa đặc biệt. Sau bốn thập niên Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội rất đáng ghi nhận.
Tuy nhiên, chặng đường phía trước đặt ra những yêu cầu mới và cao hơn. Khát vọng trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 cùng với cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 đòi hỏi Việt Nam không chỉ duy trì tốc độ tăng trưởng mà phải thực hiện những chuyển đổi căn bản về mô hình tăng trưởng, cơ cấu kinh tế, công nghệ, nguồn nhân lực, quản trị tài nguyên và chất lượng thể chế.
Chia sẻ cùng quan điểm, GS.TS. Keunjae Lee từ Đại học Quốc gia Pusan, Hàn Quốc lưu ý, những kết quả tăng trưởng ấn tượng của Việt Nam gần đây chưa thể khỏa lấp được nguy cơ bẫy thu nhập trung bình cận kề.
Thực tế đã diễn ra cho thấy chỉ có một số ít nền kinh tế vượt qua bẫy này thành công trong khi nhiều cái tên khác bị đình trệ trong ngưỡng thu nhập này suốt nhiều thập kỷ.
Theo ông Keunjae Lee, nguyên nhân cốt lõi là bởi các nước bị kẹt thường bám chặt vào mô hình tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên việc thâm dụng lao động và vốn, thay vì chuyển dịch kịp thời sang tăng trưởng theo chiều sâu dựa trên năng suất, công nghệ và chất lượng thể chế.

GS.TS. Keunjae Lee, Đại học Quốc gia Pusan, Hàn Quốc
Phân tích tại EDAST 2026, GS.TS. Keunjae Lee nhận định mô hình tăng trưởng hiện tại của Việt Nam đang cho thấy những giới hạn thông qua 6 rủi ro cơ cấu.
Trước hết là sự trì trệ về năng suất khi đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) còn thấp, năng lực đổi mới sáng tạo tự thân còn rất yếu.
Thách thức này càng trở nên trầm trọng hơn khi lợi thế cơ cấu dân số vàng của Việt Nam sắp phai nhạt, nền kinh tế dự kiến sẽ bước vào thời kỳ xã hội già hóa từ năm 2036, đối mặt với nguy cơ "chưa giàu đã già".
Bên cạnh đó, theo ông Keunjae Lee, Việt Nam còn thiếu hụt vốn nhân lực nghiêm trọng và năng lực đổi mới sáng tạo rất hạn chế. Chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam hiện chỉ chiếm khoảng 0,42% GDP, chênh lệch lên tới 12 lần so với mức 5.2% GDP của Hàn Quốc.
Sự thiếu hụt này dẫn đến một hệ quả tất yếu là nền công nghiệp trong nước rơi vào tình trạng phụ thuộc nặng nề vào khối FDI. Ông Keunjae Lee dẫn dữ liệu cho thấy, khối ngoại hiện đang chiếm tới 2/3 tổng kim ngạch xuất khẩu nhưng tỷ lệ nội địa hóa chỉ dừng lại ở mức 30%, khiến các doanh nghiệp nội địa yếu thế và chuỗi liên kết công nghiệp trong nước còn lỏng lẻo.
Bên cạnh những điểm nghẽn về nhân lực và công nghiệp, các động lực cải cách thể chế cũng cần được tiếp tục.
Kinh nghiệm từ kỳ tích của Hàn Quốc
Chia sẻ kinh nghiệm từ Hàn Quốc, vị giáo sư từ Đại học Quốc gia Pusan cho biết, thành công của quốc gia này không đến từ một chính sách cố định mà nằm ở nguyên lý liên tục biến đổi mô hình tăng trưởng qua từng giai đoạn phát triển.
Từ việc thâm dụng lao động trong ngành dệt may, da giày vào thập niên 1960 - 1970 với GDP đầu người dưới 1.000 USD, Hàn Quốc đã dịch chuyển sang công nghiệp nặng (thép, đóng tàu). Sau đó, quốc gia này tiến tới điện tử, bán dẫn những năm 2000 và hiện nay là chip AI, công nghệ sinh học.
Song song với đó, vai trò của chính phủ Hàn Quốc cũng được thay đổi để phù hợp với bối cảnh, từ can thiệp trực tiếp và bảo hộ công nghiệp ban đầu chuyển sang xây dựng hệ thống kinh tế thị trường, cải cách quản lý và cuối cùng là hỗ trợ gián tiếp, kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thông qua đầu tư công - tư.
Chất lượng thể chế vượt trội của Hàn Quốc đã xây dựng nên niềm tin xã hội vững chắc, giúp đất nước này vượt qua các cuộc khủng hoảng lớn và tạo động lực tự thân cho mỗi người dân.

Chặng đường phía trước đặt ra cho Việt Nam những yêu cầu mới và cao hơn. Ảnh: Hoàng Anh
Từ thực tiễn đó, ông Keunjae Lee khuyến nghị Việt Nam phải thực hiện đồng bộ năm chuyển dịch chính sách cốt lõi.
Chuyển dịch trước hết là thay đổi nguồn động lực tăng trưởng, chuyển từ thâm dụng lao động giá rẻ sang nâng cao năng suất và đổi mới công nghệ.
Đồng thời, Việt Nam phải nâng cấp nguồn lực cạnh tranh thông qua việc chuyển từ lao động kỹ năng cơ bản sang vốn nhân lực trình độ cao, nâng tỷ lệ nhập học đại học và thiết lập các chương trình đào tạo quốc gia về STEM, AI và hợp tác nghiên cứu quốc tế.
Bên cạnh đó, chiến lược FDI cần thay đổi căn bản từ chú trọng số lượng sang lựa chọn chất lượng, yêu cầu các tập đoàn đa quốc gia thiết lập trung tâm R&D tại Việt Nam nhằm nâng tỷ lệ nội địa hóa, từ đó tích hợp doanh nghiệp nội địa sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Không chỉ vậy, Việt Nam cần tận dụng xu thế dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu để định vị chiến lược trong các ngành then chốt như bán dẫn và năng lượng sạch thay vì chỉ làm nơi lắp ráp giá trị thấp.
Cuối cùng, theo ông Keunjae Lee, Việt Nam cần thực hiện một bước nhảy vọt về chất lượng thể chế bằng cách đơn giản hóa thủ tục hành chính thông qua mô hình hậu kiểm, bảo vệ tinh thần dám nghĩ dám làm, đồng thời tạo sân chơi bình đẳng cho khối tư nhân.
Theo ông Keunjae Lee, sự ra đời của Nghị quyết số 68-NQ/TW mang một ý nghĩa lịch sử và học thuật vô cùng lớn lao. Bằng việc khẳng định Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, Nghị quyết đã tạo ra mối liên kết trực tiếp nhất đến mục tiêu tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo.
Tín hiệu thể chế mạnh mẽ này không chỉ thúc đẩy việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao thực lực doanh nghiệp nội địa mà còn thể hiện cam kết chính trị rõ ràng trong việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Hàn Quốc cũng đã thực hiện những cải cách thể chế thành công để chuyển dịch từ mô hình do nhà nước dẫn dắt sang mô hình do tư nhân và thị trường dẫn dắt trong thập niên 1980 - 1990.
Hành trình bứt phá khỏi bẫy thu nhập trung bình của Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt quyết định. Năm chuyển dịch chiến lược về năng suất, nhân lực, công nghiệp, chuỗi giá trị và thể chế không thể hoạt động đơn lẻ mà phải tiến hành đồng bộ để tạo ra sự cộng hưởng mạnh mẽ. Trong đó, thể chế chính là bệ đỡ vững chắc nhất.
Định hướng chiến lược của Việt Nam thông qua Nghị quyết 68-NQ/TW đã có cơ sở khoa học và thực tiễn rất rõ ràng. Thách thức lớn nhất giờ đây không còn nằm ở việc xác định con đường đi mà chính là năng lực thực thi hiệu quả để biến các cam kết thể chế thành động lực phát triển thực tế trên chặng đường hướng tới một quốc gia thu nhập cao.

