Kinh tế biển: Vì sao tiềm năng lớn vẫn chưa thành động lực tăng trưởng?
Dù sở hữu hơn 3.260km bờ biển, vùng biển rộng trên 1 triệu km² và hơn 4.000 hòn đảo, đóng góp của kinh tế biển Việt Nam vẫn ở mức trung bình so với nhiều quốc gia.
Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, tỷ trọng giá trị gia tăng của các ngành kinh tế biển mới tăng từ 5,04% lên 5,83% trong một thập kỷ, cho thấy yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy và tầm nhìn, có đột phá về thể chế, đầu tư và mô hình phát triển.
Kinh tế biển chưa tương xứng với tiềm năng

Việt Nam có lợi thế đặc biệt để phát triển các ngành kinh tế biển như hàng hải, logistics, du lịch biển, khai thác và nuôi trồng thủy sản, năng lượng tái tạo ngoài khơi, công nghiệp ven biển, dịch vụ biển và các ngành kinh tế biển mới.
Tại buổi làm việc về Đề án tổng kết Nghị quyết số 36 của Trung ương khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 hôm 8/6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu quan điểm: phải thẳng thắn nhìn nhận, thời gian qua, kinh tế biển vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển của đất nước.
Trong giai đoạn phát triển mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu đổi mới tư duy và tầm nhìn phát triển biển với trọng tâm chuyển mạnh từ tư duy kinh tế biển sang tư duy không gian phát triển biển quốc gia mạnh.
“Biển không chỉ là nơi khai thác tài nguyên hay phát triển một số ngành kinh tế mà phải được xác định là không gian phát triển chiến lược của quốc gia, là nơi hội tụ các lợi ích phát triển, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Trước đó, tại Hội thảo Quốc gia về hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững, ông Đặng Ngọc Điệp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng nhìn nhận, sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36, mặc dù nhiều cơ chế, chính sách đã được ban hành, góp phần thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế biển, kết quả hiện nay vẫn chưa tương xứng với lợi thế mà Việt Nam đang sở hữu.
Nghị quyết 36 xác định 6 lĩnh vực kinh tế biển trọng tâm gồm: Du lịch và dịch vụ biển; kinh tế hàng hải; khai thác dầu khí và khoáng sản biển; nuôi trồng, khai thác hải sản; công nghiệp ven biển và năng lượng tái tạo, các ngành kinh tế biển mới. Sở hữu hơn 3.260km bờ biển, diện tích vùng biển hơn 1 triệu km2 cùng hệ thống hơn 4.000 hòn đảo, song đóng góp của kinh tế biển cho nền kinh tế Việt Nam còn hạn chế.
Báo cáo của Ngân hàng Thế giới công bố tháng 5/2025 cho thấy kinh tế biển của Việt Nam có mức đóng góp trung bình so với các quốc gia khác. Tỷ lệ đóng góp từ tổng các giá trị gia tăng (GVA) của các ngành kinh tế biển vào tổng GVA quốc gia đã tăng nhẹ trong thập kỷ qua, từ 5,04% lên 5,83%, ngoại trừ năm 2020 khi giảm mạnh còn 3,18% do ảnh hưởng nghiêm trọng từ sự sụt giảm của ngành du lịch và lữ hành. Tỷ trọng đóng góp vào việc làm từ các ngành kinh tế biển chiếm khoảng 8% tổng số việc làm trên cả nước.
Dự báo đến năm 2030, nếu vẫn theo kịch bản phát triển thông thường, tỷ lệ đóng góp của kinh tế biển sẽ chỉ đạt khoảng 9,65% GVA - thấp hơn mục tiêu 10% GDP mà Nghị quyết 36 đề ra.
“Các số liệu trên cho thấy mô hình kinh tế biển của Việt Nam vẫn dựa vào các ngành có giá trị gia tăng thấp cùng với những thách thức về tính bền vững và nguy cơ suy thoái và cạn kiệt tài nguyên biển”, báo cáo nêu.
Thực tế thời gian qua, nhiều hạn chế, bất cập về thể chế đã bộc lộ rõ.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thiếu cơ chế, chính sách đủ mạnh để khơi thông nguồn lực biển và mở rộng không gian phát triển hướng biển.
Bên cạnh đó, thủ tục hành chính liên quan đến các dự án biển còn phân tán và chồng chéo. Từ đó làm gia tăng chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp; kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư và giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư biển.
Ngoài ra, các lĩnh vực khoa học công nghệ biển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu biển vẫn chưa phát huy đầy đủ vai trò là động lực cho tăng trưởng.
Tháo gỡ các rào cản trong phát triển kinh tế biển
Bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao hơn từ kinh tế biển đã đặt ra yêu cầu phải xây dựng nghị quyết mới, tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ về tư duy, thể chế và mô hình phát triển biển.
Trong đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu nghị quyết mới phải làm rõ hình hài của "một quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI", xác định rõ vai trò của biển trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, năm 2045 và những năm tiếp theo.
Người đứng đầu Đảng, Nhà nước cũng đề nghị đặt biển vào vị trí một trong những động lực phát triển chiến lược, từ đó xác định rõ chủ trương phát triển, những lĩnh vực có khả năng tạo đột phá, đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa phát triển với bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ biển.
Bên cạnh Nghị quyết mới về Chiến lược phát triển kinh tế biển, Dự thảo Luật Tài nguyên và Môi trường biển, hải đảo (sửa đổi) cũng đang được xây dựng, dự kiến trình Quốc hội vào tháng 10/2026.
Theo cơ quan soạn thảo, tinh thần xuyên suốt của lần sửa đổi này là kiến tạo phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Quan điểm được nhấn mạnh là bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, thay vào đó là quản lý bằng quy hoạch, dữ liệu số, công nghệ hiện đại và các công cụ pháp lý minh bạch.
Đơn cử, cơ chế cho thuê biển được đề xuất theo hướng chi phí hợp lý hơn, thủ tục đơn giản hơn nhằm nâng cao khả năng thu hút doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực có tiềm năng lớn như nuôi biển công nghệ cao, năng lượng tái tạo ngoài khơi và các ngành kinh tế biển mới.
Quy hoạch không gian biển sẽ được xây dựng theo hướng thống nhất, đồng bộ, hạn chế tình trạng chồng chéo giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương. Điều này được kỳ vọng sẽ tạo môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và thuận lợi hơn cho cộng đồng doanh nghiệp.
Theo các chuyên gia, để đạt được mục tiêu phấn đấu trở thành "một quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI”, bên cạnh hoàn thiện thể chế, chính sách, cần tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ biển và chuyển đổi số, AI trong phát triển và quản trị không gian biển. Đây sẽ là những giải pháp giúp Việt Nam đạt được những bước tiến đột phá, thoát khỏi tụt hậu trong tất cả các lĩnh vực phát triển và quản trị biển.
Nhìn lại quá trình 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36 cho thấy nhận thức về vị trí, vai trò của biển và phát triển bền vững kinh tế biển đã được nâng lên; hệ thống thể chế, chính sách về biển từng bước được hoàn thiện; nhiều ngành kinh tế biển phát triển khá; đầu tư hạ tầng ven biển được tăng cường; đời sống người dân vùng biển được cải thiện; quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biển đảo đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần khẳng định vị thế của đất nước. Tuy nhiên, đánh giá thẳng thắn thì kinh tế biển nước ta vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển của đất nước, nhất là theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
PGS.TS Nguyễn Chu Hồi Nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo

Dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, Môi trường biển và Hải đảo sẽ sớm được Quốc hội cho ý kiến và thông qua. Quá trình xây dựng Luật hiện có nhiều điều kiện thuận lợi khi được hỗ trợ bởi các cơ sở chính trị, pháp lý, khoa học và thực tiễn ngày càng đầy đủ. Đặc biệt, việc sửa đổi Luật diễn ra trong bối cảnh Trung ương đang tổng kết Nghị quyết 36 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam và dự kiến ban hành nghị quyết mới. Vấn đề trọng tâm là thể chế hóa hơn các quan điểm phát triển kinh tế biển xanh, bảo đảm phát triển trong giới hạn và lấy hệ sinh thái làm nền tảng. Dự thảo Luật cần thúc đẩy chuyển đổi từ tư duy quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp, liên ngành và dựa trên hệ sinh thái, nhằm giải quyết hiệu quả các xung đột, chồng chéo lợi ích trong khai thác, sử dụng không gian biển và tài nguyên biển.
Ông Tạ Đình Thi Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội

Quảng Ninh hiện đang tập trung triển khai 5 nhóm giải pháp chính sách trọng tâm để gỡ nút thắt, phát triển kinh tế biển xứng với tiềm năng hiện có, gồm: Quản lý đồng bộ không gian biển theo 3 hành lang chức năng kinh tế (gồm: Hành lang công nghiệp - đô thị - logistics phía Tây (Quảng Yên - Tây Hạ Long - Uông Bí - Đông Triều); Trục kinh tế du lịch biển đảo di sản trung tâm (Hạ Long - Cẩm Phả - Vân Đồn - Cô Tô); Hành lang cửa khẩu - công nghiệp xuất khẩu phía Đông (Móng Cái - Quảng Hà - Đầm Hà - Tiên Yên). Hoàn thiện hạ tầng kết nối đa phương thức và hậu cần biển chuyên sâu; Số hóa công tác quản trị biển và thúc đẩy kinh tế số cửa khẩu; Tháo gỡ nút thắt chính sách, thúc đẩy các ngành kinh tế biển mới và Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững dải bãi triều tự nhiên.
Ông Nguyễn Văn Công Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh












