Kinh tế di sản - nhìn từ sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã mở ra tầm nhìn chiến lược khi khẳng định vai trò của di sản văn hóa trong phát triển kinh tế, với mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa đóng góp tới 7% GDP vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045, đồng thời hình thành mô hình 'di sản dẫn dắt phát triển kinh tế' tại các khu di sản thế giới và một số đô thị di sản. Và để mục tiêu này có thể trở thành hiện thực, rõ ràng, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cần phải được đặt đúng vai trò để giúp tài sản hóa vốn di sản và ngăn chặn thất thoát giá trị sáng tạo quốc gia.

Với loạt bài Kinh tế di sản - nhìn từ sở hữu trí tuệ, Báo Thể thao và Văn hóa (TTXVN) sẽ cùng độc giả nhận diện vai trò của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và các trụ cột hành động cần thiết để biến bản sắc văn hóa thành sức mạnh kinh tế thực thụ trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

Quang cảnh Phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam sáng 19/3/2026

Quang cảnh Phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam sáng 19/3/2026

Tiềm năng cần khai mở

Trong suốt nhiều thập kỷ qua, tư duy chủ đạo của Việt Nam đối với di sản văn hóa vẫn xoay quanh trục bảo tồn. Theo đó, di sản là đối tượng cần được giữ gìn, tôn tạo, truyền bá và ngân sách dành cho di sản được xếp vào nhóm chi phí bảo tồn, chứ không phải nhóm đầu tư sinh lợi. Tư duy ấy có cơ sở lịch sử chính đáng, bởi một quốc gia có kho tàng di sản phong phú như Việt Nam không thể không đặt nhiệm vụ bảo tồn lên hàng đầu khi đối diện với các áp lực của đô thị hóa, của công nghiệp hóa và của sự xâm nhập văn hóa ngoại lai trên các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới.

Nhưng Nghị quyết 80 đã mở ra một chiều nhận thức mới khi đặt di sản không chỉ ở vị trí được bảo tồn mà còn ở vị trí dẫn dắt, không chỉ là đối tượng cần chi phí mà còn là nguồn lực tạo ra giá trị, không chỉ thuộc về quá khứ mà còn là nền tảng cho tương lai kinh tế của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Đây là lần đầu tiên di sản được đặt vào một phương trình kinh tế có chủ đích, có đích đến và có công cụ đo lường - một bước chuyển mà nhiều quốc gia có nền kinh tế sáng tạo phát triển phải mất nhiều thập kỷ mới hình thành trong tư duy chính sách.

Lễ hội đền, chùa Bà Tấm. Ảnh: TTXVN

Lễ hội đền, chùa Bà Tấm. Ảnh: TTXVN

Sở dĩ Nghị quyết 80 có cơ sở để đặt di sản vào vị trí dẫn dắt là bởi Việt Nam sở hữu một kho tàng di sản vật thể và phi vật thể thuộc hàng phong phú bậc nhất Đông Nam Á - một kho tàng mà phần lớn chưa được chuyển hóa thành giá trị kinh tế tương xứng với tầm vóc của nó.

Trên phương diện di sản vật thể, Việt Nam có các quần thể di tích lịch sử trải dài từ Bắc vào Nam, các đô thị cổ mang dấu ấn kiến trúc và quy hoạch đặc thù qua nhiều thời kỳ, các di sản thế giới được UNESCO công nhận bao gồm cả di sản thiên nhiên, di sản văn hóa và di sản hỗn hợp, cùng với hàng nghìn di tích cấp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt đang được bảo quản trên khắp các vùng miền.

Ảnh: TTXVN

Trên phương diện di sản phi vật thể, Việt Nam có một hệ thống biểu đạt văn hóa dân gian đa tầng, từ các làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc đặc trưng của từng vùng miền, đến các nghi thức lễ hội mang chiều sâu tín ngưỡng và triết lý cộng đồng, từ các mẫu hoa văn trên thổ cẩm, gốm, đồ đồng đã kết tinh hàng thế kỷ thẩm mỹ bản địa, đến các bài thuốc cổ truyền, kỹ thuật canh tác, phương pháp chế biến thực phẩm truyền thống đã được tích lũy qua nhiều thế hệ. Bên cạnh đó, Việt Nam còn có hệ thống sản vật gắn với địa danh, với các chỉ dẫn địa lý và đặc sản vùng miền phản ánh sự giao thoa giữa điều kiện tự nhiên, tri thức bản địa và bản sắc cộng đồng.

Toàn bộ kho tàng ấy, nếu được nhìn qua lăng kính kinh tế, chính là nguyên liệu đầu vào cho một nền công nghiệp văn hóa có chiều sâu.

7% đến 9% GDP - nhìn từ so sánh quốc tế

Mốc 7% GDP vào năm 2030 sẽ đưa Việt Nam vào nhóm dẫn đầu thế giới về đóng góp kinh tế của các ngành công nghiệp văn hóa. Đó là một mục tiêu có cơ sở nhưng cũng đòi hỏi một nỗ lực vượt ra ngoài khuôn khổ các giải pháp tăng trưởng thông thường.

Để đánh giá tính khả thi của mục tiêu mà Nghị quyết 80 đặt ra cho nền kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa, cách đáng tin cậy nhất là đặt con số ấy bên cạnh các chuẩn mực quốc tế đã được kiểm chứng.

Báo cáo Triển vọng Kinh tế sáng tạo năm 2024 do Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) công bố cho thấy đóng góp của nền kinh tế sáng tạo giữa các quốc gia trên thế giới hiện đang dao động trong một dải rất rộng, từ 0,5% đến 7,3% GDP, và tạo việc làm cho từ 0,5% đến 12,5% lực lượng lao động tùy theo từng quốc gia.

Nếu đạt được mục tiêu như Nghị quyết 80 đề ra, mốc 7% GDP vào năm 2030 sẽ đưa Việt Nam vào nhóm dẫn đầu thế giới về đóng góp kinh tế của các ngành công nghiệp văn hóa, tiệm cận ngưỡng trên của dải biến thiên UNCTAD và gần với mức cao nhất mà các quốc gia dẫn đầu đạt được. Đây không phải là một con số trung bình khu vực mà Việt Nam đang phấn đấu đạt bằng với các nước láng giềng, mà là một con số thuộc nhóm cao nhất toàn cầu. Nhưng dù cao, con số ấy vẫn nằm trong khung khả thi đã được các nền kinh tế khác chứng minh là có thể đạt được.

Chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống với chủ đề "Nhạc ta sử tích" xây dựng theo hình thái của một buổi hát thờ tại đình, miếu cộng đồng người Việt Nam, đưa tới công chúng các tiết mục ca nhạc cổ truyền đặc sắc, góp phần kết nối và lan tỏa giá trị văn hóa theo đúng định hướng, chiến lược của Nghị quyết 80 NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống với chủ đề "Nhạc ta sử tích" xây dựng theo hình thái của một buổi hát thờ tại đình, miếu cộng đồng người Việt Nam, đưa tới công chúng các tiết mục ca nhạc cổ truyền đặc sắc, góp phần kết nối và lan tỏa giá trị văn hóa theo đúng định hướng, chiến lược của Nghị quyết 80 NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Ảnh: TTXVN

Điều đó có nghĩa, mục tiêu của Nghị quyết 80 là con số hợp lý, nhưng cũng không phải là một con số có thể đạt được bằng các giải pháp tăng trưởng thông thường.

Toàn bộ logic kinh tế của mô hình "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế" chỉ vận hành được khi vốn di sản được chuyển hóa thành tài sản kinh tế một cách chính danh, có chủ thể pháp lý rõ ràng, có cơ chế định giá minh bạch và có dòng giá trị chảy về đúng các cộng đồng đã sáng tạo và gìn giữ di sản ấy qua nhiều thế hệ. Nói cách khác, vốn di sản phải được định danh, định giá và xác lập chủ thể quyền thông qua các công cụ pháp lý phù hợp, mà trọng tâm nằm ở hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ.

Nghị quyết 80 đã cơ bản xác nhận điều này khi đặt yêu cầu nghiên cứu và định giá tổng giá trị kinh tế của di sản, cũng như khi yêu cầu xây dựng Bộ chỉ số văn hóa quốc gia và Bộ chỉ số thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa theo chuẩn mực quốc tế. Hai nội dung này là sự xác nhận rằng cách đo đóng góp của văn hóa vào GDP theo phương pháp hiện hành là chưa đủ, và Việt Nam cần một hạ tầng thống kê và định giá mới có khả năng phản ánh đúng vai trò của tài sản có nguồn gốc di sản văn hóa trong nền kinh tế. Hạ tầng ấy, về bản chất, là một hạ tầng sở hữu trí tuệ, bởi không thể định giá một tài sản mà chưa xác định được chủ thể quyền, không thể thống kê dòng giá trị của một đối tượng mà chưa có cơ chế bảo hộ pháp lý rõ ràng, không thể đưa một yếu tố di sản vào chuỗi giá trị kinh tế quốc tế nếu yếu tố ấy chưa được định danh vào một quyền có khả năng giao dịch.

Ảnh: TTXVN

Sở hữu trí tuệ trong địa hạt di sản, vì vậy, không phải là một câu chuyện kỹ thuật pháp lý hẹp dành riêng cho giới hành nghề chuyên môn, mà là điều kiện cần, và có lẽ là điều kiện cần quan trọng nhất, để kinh tế di sản có thể chuyển từ một định hướng chính sách thành một thành tựu kinh tế có thể đo đếm được bằng những con số cụ thể trong các báo cáo thống kê quốc gia.

Mục tiêu đóng góp 7% GDP của ngành công nghiệp văn hóa cho đến năm 2030 là một con số có cơ sở quốc tế nhưng khó có thể đạt được nếu thiếu các hoạt động tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là tài sản trí tuệ có nguồn gốc di sản.

Nếu tiếp cận mục tiêu ấy chỉ bằng công cụ của chính sách đầu tư công, phát triển nhân lực và mở rộng sản xuất thì con đường đến 7% GDP sẽ là một con đường khó khăn trong khung thời gian đã đặt. Nhưng nếu đặt sở hữu trí tuệ vào đúng vị trí, như công cụ chống thất thoát giá trị ở trục sản xuất sáng tạo và như công cụ tài sản hóa vốn di sản ở trục di sản dẫn dắt kinh tế, thì mục tiêu ấy có một con đường hiện thực hóa rõ ràng.

Đây là mắt xích không thể thiếu trong chuỗi giá trị đứng phía sau mọi mục tiêu lớn về phát triển văn hóa. Và vì là mắt xích không thể thiếu, nó cần được nhìn nhận, được đầu tư và được hoàn thiện với một mức độ ưu tiên xứng đáng với vai trò sẽ đảm nhận trong thập kỷ tới.

Một mẫu hoa văn truyền thống có thể trở thành chất liệu cho một thương hiệu thời trang có sức cạnh tranh quốc tế. Một huyền tích bản địa có thể trở thành nền tảng cho một vũ trụ nội dung điện ảnh và trò chơi điện tử. Một công thức ẩm thực vùng miền có thể trở thành xương sống cho một chuỗi nhà hàng toàn cầu. Một không gian di sản có thể trở thành điểm đến văn hóa mang lại doanh thu du lịch bền vững.

Bên cạnh du lịch, nếu di sản dẫn dắt sản xuất sáng tạo vào đúng hướng thì có khả năng tạo giá trị gia tăng cao nhất và có khả năng cạnh tranh quốc tế rõ rệt nhất.

(Còn tiếp)

Tuệ Lâm

Nguồn Báo Thể Thao & Văn Hóa: https://thethaovanhoa.vn/kinh-te-di-san-nhin-tu-so-huu-tri-tue-20260423060615187.htm