Kinh tế phát triển, đô thị hóa nhanh thúc đẩy xu hướng kết hôn muộn

Theo Cục Thống kê, tỷ trọng dân số từ 15 tuổi trở lên đã từng kết hôn của cả nước năm 2025 chiếm 74,2%, trong đó số người đang có vợ/chồng chiếm 64,1% (giảm 4,1 điểm phần trăm so với Tổng điều tra năm 2019), dân số đã ly hôn hoặc ly thân là 3,0% (tăng 0,9 điểm phần trăm so với năm 2019). Tỷ trọng dân số từ 15 tuổi trở lên chưa từng kết hôn chiếm 25,8% (tăng 3,3 điểm phần trăm so với năm 2019).

Trung du và miền núi phía Bắc là vùng có tỷ trọng nhóm có vợ/chồng cao nhất cả nước (chiếm 70,8%). Ảnh: QUỲNH ANH

Trung du và miền núi phía Bắc là vùng có tỷ trọng nhóm có vợ/chồng cao nhất cả nước (chiếm 70,8%). Ảnh: QUỲNH ANH

Tỷ lệ ly hôn ở thành thị và nông thôn đều tăng

So sánh giữa khu vực thành thị và nông thôn, tỷ lệ chưa có vợ chồng của dân số từ 15 tuổi trở lên ở thành thị là 29,3%, trong khi đó ở nông thôn chỉ là 23,5%, có sự khác biệt khá lớn giữa 2 khu vực (5,8 điểm phần trăm). Tỷ lệ hiện đang có vợ/chồng ở thành thị là 61,0%, ở nông thôn là 66,2%.

Tỷ lệ ly hôn của dân số từ 15 tuổi trở lên ở thành thị là 3,0%, nông thôn là 2,6% (đều tăng khoảng 1,0 điểm phần trăm so với kết quả Tổng điều tra năm 2019). Tỷ lệ ly thân ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn đều khoảng 0,3%.

Theo Cục Thống kê, giữa các vùng kinh tế - xã hội, Trung du và miền núi phía Bắc là vùng có tỷ trọng nhóm “Chưa từng kết hôn” thấp nhất (chiếm 19,2%). Đây cũng là vùng có tỷ trọng nhóm có vợ/chồng cao nhất cả nước (chiếm 70,8%).

Ngược lại, Đông Nam Bộ là vùng có tỷ lệ “Chưa từng kết hôn” cao nhất, đồng thời cũng là vùng có tỷ lệ có vợ/chồng thấp nhất, tương ứng chiếm 33,1% (tăng 2,9 điểm phần trăm so với năm 2019) và 57,2% (giảm 5,7 điểm phần trăm so với 2019). Tỷ lệ ly hôn ở các vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long lần lượt là 3,6% và 3,8%, cao hơn mức trung bình của các vùng còn lại khoảng 1,5 lần.

Có khoảng 64,2% nam giới từ 15 tuổi trở lên hiện đang có vợ và 64,1% phụ nữ từ 15 tuổi trở lên hiện đang có chồng. Thực tế, nữ giới thường có xu hướng kết hôn sớm hơn nam giới nhưng khi tuổi càng cao (ngoài độ tuổi 40) thì tỷ lệ sống độc thân lại cao hơn so với nam giới.

Tuy nhiên, từ độ tuổi 40 trở lên, tỷ trọng nam giới có vợ cao hơn đáng kể so với tỷ trọng nữ giới có chồng; đồng thời, tỷ trọng sống độc thân của nam (chưa có vợ/ly hôn/ly thân/góa) thấp hơn khá nhiều so với nữ. Ở nhóm tuổi 55-59, tỷ lệ nam giới sống độc thân chỉ chiếm 8,9%, trong khi tỷ lệ này ở nữ giới là 23,3% (chênh lệch 14,4 điểm phần trăm).

Ngoài ra, góa vợ/chồng cũng là nhóm đóng góp lớn nhất dẫn đến sự khác biệt về tỷ trọng sống độc thân giữa nam và nữ sau độ tuổi 45. Năm 2025, tỷ lệ nữ góa chồng là 11,4%, cao gấp 4,6 lần so với tỷ lệ nam góa vợ (2,5%). Có hai lý do có thể giải thích cho sự khác biệt này, đó là tuổi thọ của nam giới thường thấp hơn nữ giới và nam giới góa vợ thường có xu hướng tái kết hôn nhiều hơn so với nữ góa chồng.

Kèm theo xu hướng kết hôn muộn hơn

Ở Việt Nam, tình trạng ly hôn và ly thân không phổ biến, chỉ có 2,7% dân số từ 15 tuổi trở lên đang trong tình trạng ly hôn và 0,3% ly thân. Tuy nhiên, tỷ trọng ly hôn có sự khác biệt theo giới tính. Ly hôn ở nữ giới được tìm thấy luôn cao hơn so với nam cho mọi nhóm tuổi quan sát. Tỷ lệ ly thân chỉ chiếm dưới 1% và hầu như không có sự khác biệt theo giới tính.

Ở độ tuổi dưới 40, mức giảm về tỷ lệ “Chưa từng kết hôn” ở nữ là cao và nhanh hơn so với nam. Tuy nhiên, sau tuổi 40, trong khi tỷ lệ “Chưa từng kết hôn” của nam 36 giới tiếp tục giảm và chỉ còn 1,4% ở nhóm từ 60 tuổi trở lên, tỷ lệ này của nữ giới không có nhiều thay đổi, khoảng 4,0% cho thấy khả năng kết hôn của phụ nữ ở nhóm tuổi cao bị hạn chế hơn so với nam giới cùng nhóm tuổi.

Từ năm 1999 đến nay, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của cả hai giới đều tăng nhưng mức tăng của nam nhanh hơn của nữ. Điều này làm tăng thêm khoảng cách chênh lệch về tuổi kết hôn trung bình lần đầu giữa hai giới.

Có sự khác biệt về tuổi kết hôn trung bình lần đầu giữa thành thị và nông thôn, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam và nữ ở khu vực thành thị đều cao hơn nông thôn. Kết quả Điều tra cho thấy, chênh lệch tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam thành thị so với nam nông thôn là 1,3 năm, nữ thành thị so với nữ nông thôn là 2,8 năm. Như vậy, so với khu vực nông thôn, nam và nữ thành thị đều có xu hướng kết hôn muộn hơn.

Vùng có tuổi kết hôn trung bình lần đầu thấp nhất là Trung du và miền núi phía Bắc (27,1 đối với nam và 22,5 đối với nữ). Thực tế cho thấy ở những vùng có mức độ đô thị hóa cao hơn hoặc có điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển hơn, người dân có xu hướng kết hôn muộn hơn (như các vùng Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long). Trong khi đó, tại Trung du và miền núi phía Bắc, tỷ lệ lớn người dân tộc thiểu số sinh sống với các đặc thù về văn hóa, phong tục tập quán được xem là nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định kết hôn sớm của người dân trong vùng.

Xem xét tuổi kết hôn trung bình lần đầu theo trình độ học vấn cao nhất đạt được cho thấy, không có nhiều sự khác biệt giữa 3 nhóm chưa tốt nghiệp tiểu học, tốt nghiệp tiểu học và tốt nghiệp trung học cơ sở. Tuy nhiên, lại có sự khác biệt lớn tuổi kết hôn trung bình lần đầu giữa nhóm tốt nghiệp trung học phổ thông với 3 nhóm trên.

Tỷ trọng nữ “Đã từng kết hôn” ở độ tuổi 18 và 19 khu vực nông thôn cao hơn đáng kể so với tỷ lệ này ở khu vực thành thị. Tỷ trọng nữ nông thôn “Đã từng kết hôn” ở tuổi 18 là 8,3% và ở tuổi 19 là 15,1%, trong khi tỷ trọng này ở thành thị tương ứng lần lượt là 2,1% và 4,1%. Tất cả các chỉ tiêu này ở nữ vị thành niên đều cao hơn so với nam vị thành niên.

Tình trạng kết hôn tuổi vị thành niên khác biệt đáng kể theo vùng kinh tế - xã hội. Tỷ trọng nam và nữ vị thành niên “Đã từng kết hôn” ở Trung du và miền núi phía Bắc là cao nhất (5,0%), tiếp theo là Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (2,9%). Đây là hai vùng tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, có điều kiện kinh tế kém phát triển hơn so với các vùng khác trong cả nước; đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai vùng có tỷ trọng nam và nữ vị thành niên “Đã từng kết hôn” thấp./.

ĐỨC HUY

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/kinh-te-phat-trien-do-thi-hoa-nhanh-thuc-day-xu-huong-ket-hon-muon