Kinh tế số thúc đẩy doanh nghiệp Việt đổi mới

Mục tiêu kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP vào năm 2030 đang tạo sức ép đổi mới đối với doanh nghiệp Việt. Muốn tận dụng cơ hội, doanh nghiệp phải nâng năng suất, khai thác hiệu quả dữ liệu và tăng khả năng ứng dụng, làm chủ công nghệ trong sản xuất, kinh doanh.

Kinh tế số mở ra dư địa để doanh nghiệp Việt đổi mới mô hình kinh doanh và nâng cao giá trị. (Ảnh minh hoạ)

Kinh tế số mở ra dư địa để doanh nghiệp Việt đổi mới mô hình kinh doanh và nâng cao giá trị. (Ảnh minh hoạ)

Mục tiêu 30% GDP và bài toán của doanh nghiệp Việt

Tháng 6/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1033 phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030.

Chương trình hướng đến xây dựng nền kinh tế số dựa trên nền tảng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, phát triển xanh và bền vững. Đồng thời, chương trình đặt mục tiêu xây dựng xã hội số an toàn, bao trùm, tạo điều kiện để người dân tiếp cận và thụ hưởng thành quả của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.

Về kinh tế số, chương trình đặt mục tiêu tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt khoảng 30%; hỗ trợ ít nhất 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; có ít nhất 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến; phát triển, thúc đẩy và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu.

Để tiến tới các mục tiêu này, Việt Nam không chỉ cần thêm doanh nghiệp tham gia kinh tế số. Quan trọng hơn là doanh nghiệp phải có khả năng khai thác dữ liệu, ứng dụng công nghệ hiệu quả và vươn lên những khâu có giá trị cao hơn trong chuỗi sản xuất, cung ứng và phân phối.

Chuyển đổi số vì thế không nên chỉ được hiểu là đầu tư thêm phần mềm, thiết bị hay đưa một số hoạt động lên môi trường số. Với doanh nghiệp, điều cốt lõi là công nghệ có giúp giảm chi phí, nâng năng suất, mở rộng thị trường và tạo thêm doanh thu hay không.

Kinh tế số trước hết làm thay đổi cách doanh nghiệp tiếp cận khách hàng. Một doanh nghiệp nhỏ có thể bán hàng qua nền tảng số, mở rộng thị trường vượt ra ngoài phạm vi địa lý và sử dụng dữ liệu để nhận biết nhu cầu của người tiêu dùng.

Ở khâu vận hành, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và tự động hóa đang được sử dụng ngày càng nhiều trong quản trị, sản xuất, logistics và chăm sóc khách hàng. Hiệu quả của những công nghệ này không chỉ nằm ở việc tiết kiệm nhân lực, mà còn ở khả năng rút ngắn quy trình, giảm sai sót và hỗ trợ doanh nghiệp ra quyết định nhanh hơn.

Công nghệ cũng đang làm thay đổi cách doanh nghiệp tạo doanh thu. Doanh nghiệp sản xuất có thể phát triển thêm dịch vụ dựa trên dữ liệu; doanh nghiệp logistics có thể tối ưu hành trình và năng lực vận chuyển bằng thuật toán; doanh nghiệp du lịch có thể thiết kế sản phẩm phù hợp hơn với từng nhóm khách hàng.

Khi đó, giá trị của chuyển đổi số không nằm ở việc doanh nghiệp sử dụng bao nhiêu công nghệ, mà ở chỗ công nghệ tạo ra thay đổi gì trong hoạt động kinh doanh.

Tạo điều kiện để doanh nghiệp đổi mới công nghệ

Để doanh nghiệp có thể đi xa hơn trong quá trình này, nguồn lực tài chính và khả năng tiếp cận công nghệ vẫn là những vấn đề quan trọng.

Một trong những công cụ hỗ trợ là Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia trực thuộc Bộ KH&CN. Theo Nghị định 77/2026/NĐ-CP, Quỹ có chức năng tài trợ, đặt hàng và hỗ trợ kinh phí cho hoạt động ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ và đổi mới sáng tạo; trong đó có cơ chế hỗ trợ lãi suất vay. Năm 2026, Quỹ đã triển khai tiếp nhận hồ sơ hỗ trợ lãi suất đối với doanh nghiệp vay vốn để chuyển giao, ứng dụng và đổi mới công nghệ.

Bên cạnh nguồn lực tài chính, Bộ KH&CN định hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hoạt động đổi mới sáng tạo, hỗ trợ từ khâu xác định nhu cầu, tìm kiếm và kết nối công nghệ đến chuyển giao, ứng dụng và đổi mới. Cách làm này nhằm kéo gần hơn nhu cầu thực tế của doanh nghiệp với nguồn cung công nghệ từ viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức trong, ngoài nước.

Ở cấp độ thể chế, từ ngày 1/7/2026, Luật Chuyển đổi số và Luật Công nghệ cao có hiệu lực, bổ sung khung pháp lý cho phát triển kinh tế số, công nghệ chiến lược và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ.

Với tốc độ phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tự động hóa và điện toán đám mây, lợi thế của doanh nghiệp sẽ khó bền vững nếu chỉ dựa vào việc mua và sử dụng các giải pháp có sẵn. Doanh nghiệp cần có khả năng tiếp nhận, cải tiến và lựa chọn công nghệ phù hợp với sản phẩm, thị trường và mô hình kinh doanh của mình.

Vai trò của chính sách vì thế chủ yếu nằm ở việc giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí và rủi ro khi đổi mới, đồng thời cải thiện khả năng tiếp cận vốn, công nghệ và nguồn lực nghiên cứu.

Khi nhu cầu của doanh nghiệp được kết nối tốt hơn với viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức công nghệ, quá trình chuyển giao có thể diễn ra nhanh hơn, còn doanh nghiệp có thêm điều kiện để thử nghiệm sản phẩm, quy trình và mô hình kinh doanh mới.

Trong cuộc cạnh tranh ngày càng dựa nhiều vào công nghệ, doanh nghiệp Việt khó tạo lợi thế nếu chỉ đi theo những mô hình đã có. Khả năng cạnh tranh sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vào việc doanh nghiệp sử dụng công nghệ như thế nào, tạo ra sản phẩm gì và chiếm được vị trí nào trong chuỗi giá trị.

Vì vậy, chính sách hỗ trợ cũng cần dịch chuyển từ việc khuyến khích doanh nghiệp đơn thuần ứng dụng công nghệ sang hỗ trợ đổi mới, làm chủ và thương mại hóa công nghệ. Đây là một trong những điều kiện để doanh nghiệp Việt nâng năng suất, tăng giá trị gia tăng và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Hằng Phạm

Nguồn Doanh nhân & Công lý: https://doanhnhan.congly.vn/kinh-te-so-thuc-day-doanh-nghiep-viet-doi-moi.html