Kinh tế thế giới 2026: Thích ứng với bất định và rủi ro
Nền kinh tế toàn cầu tiếp tục thể hiện khả năng phục hồi trước nhiều thách thức.
Sau giai đoạn hỗn loạn nửa đầu năm 2025, gắn liền với xung đột thương mại và chính sách bảo hộ của Mỹ, xung đột và bất ổn tại Trung Đông, tình hình đã ổn định nhờ các thỏa thuận tiếp theo và việc giảm thuế nhập khẩu, mặc dù tăng trưởng toàn cầu chậm lại.
Tuy nhiên, kinh tế thế giới 2026 tiếp tục thể hiện xu hướng tăng trưởng chậm lại, bất định và rủi ro gia tăng, các nguy cơ từ nợ công đến xung đột vũ trang vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.

Các yếu tố quyết định
Thứ nhất, căng thẳng thương mại và chủ nghĩa bảo hộ. Các biện pháp thuế quan của Mỹ và các xung đột thương mại khác đang tạo ra những rào cản cấu trúc đối với thương mại toàn cầu: Hàng hóa từ các thị trường nơi các biện pháp bảo hộ được áp dụng nhanh chóng được chuyển hướng sang các thị trường ít được bảo hộ hơn, tạo ra một vòng xoáy căng thẳng thương mại.
Quan điểm chung cho rằng thuế quan của Mỹ khó có thể tăng thêm nhiều, mặc dù Mỹ sẽ duy trì áp lực lên các nền kinh tế dư thừa để tái cân bằng. Nhưng cán cân rủi ro nghiêng về phía thuế quan cao hơn vì 3 lý do: (i) Mỹ có khả năng tăng thuế đối với một số sản phẩm, bao gồm cả chất bán dẫn, như một phần của các cuộc điều tra theo điều khoản 232 đang diễn ra; (ii) Mỹ có thể tăng thuế quan cụ thể ở cấp quốc gia để đáp trả các hành động của các nhà hoạch định chính sách nước ngoài hoặc các mục tiêu chính sách của Mỹ; (iii) việc chuyển sang lập trường chính sách bảo hộ hơn có thể khuyến khích các công ty Mỹ vận động hành lang để tăng thuế quan hoặc các biện pháp khác tạo ra rào cản lớn hơn xung quanh họ.
Cũng có khả năng chính quyền Tổng thống Trump sẽ đồng ý thêm các thỏa thuận với các nền kinh tế cụ thể, đẩy mức thuế quan hiệu quả xuống và việc giảm thuế đối với các sản phẩm mà Mỹ không thể sản xuất trên quy mô lớn như cà phê và chuối, có thể được mở rộng. Ngoài ra, tòa án có thể tuyên bố các mức thuế hiện hành là bất hợp pháp, cũng làm giảm mức thuế quan hiệu quả. Tuy nhiên, trong kịch bản đó, ông Trump có thể sẽ theo đuổi các biện pháp pháp lí khác để duy trì mức thuế cao. Hơn nữa, thuế quan thường tăng nhanh nhưng giảm chậm. Lần này có lẽ cũng không khác biệt do sự ủng hộ lưỡng đảng ở Mỹ.
Điều đáng chú ý là liệu các cường quốc kinh tế lớn khác có làm theo hay vẫn duy trì hệ thống mở của những thập kỉ qua. Khi Mỹ nhập khẩu ít hơn từ Trung Quốc, nhưng hàng xuất khẩu giá rẻ của Trung Quốc vẫn tiếp tục lưu thông, liệu các đối tác xuất khẩu lớn khác của Trung Quốc có áp thuế quan hay không? Câu trả lời có lẽ là có.
Nhập khẩu của Mỹ từ Trung Quốc đã giảm trong năm qua, trong khi nhập khẩu của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Liên minh châu Âu (EU) lại tăng. Tại ASEAN, các thỏa thuận thương mại, tăng trưởng nhanh chóng và chuỗi cung ứng liên kết chặt chẽ đồng nghĩa với việc nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ tiếp tục diễn ra không bị cản trở, ngoại trừ một số ngành công nghiệp trọng yếu. Nhưng đối với EU, năm 2025 là năm duy nhất mà việc mua hàng xuất khẩu của Trung Quốc không hoàn toàn giống với việc mua hàng của Mỹ. Trong những năm trước, hai bên thường song hành với nhau. Năm 2026, dự kiến EU đáp trả bằng cách tăng thuế quan đối với các sản phẩm công nghệ cao và dược phẩm từ Trung Quốc, vì đó là cách duy nhất để bảo vệ thị trường EU.

Thứ hai, áp lực nợ công. Đến năm 2029, nợ công toàn cầu có thể đạt 100% GDP thế giới. Nhiều quốc gia đang phải đối mặt với nhu cầu lấp đầy ngân sách trong bối cảnh chi phí trả nợ công, quốc phòng, lương hưu và chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và đại dịch COVID-19, các ngân hàng trung ương đã vào cuộc để cứu vãn tình hình và mua lại nợ công. Giờ đây, các ngân hàng trung ương đang “giải tỏa” hay bán nợ công, và thiết lập lại bảng cân đối kế toán của mình. Trong khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Anh (BOE) đã thể hiện ý định làm chậm quá trình này, các ngân hàng trung ương lớn khác như Ngân hàng Nhật Bản (BOJ) và Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sẽ tiếp tục thúc đẩy việc thoái vốn trong năm 2026. Điều này đặt ra câu hỏi: Nếu các ngân hàng trung ương không mua trái phiếu, thì ai sẽ mua?
Cơ sở nhà đầu tư của nợ công có thể giao dịch trên thị trường, theo mức trung bình có trọng số được tính trên 25 quốc gia. Câu trả lời là các nhà đầu tư tư nhân. Sự thay đổi này sẽ dẫn đến lợi suất cao hơn mức mà bất kì ai, kể cả Tổng thống Trump và Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent, mong muốn. Cuối cùng, chính lợi suất trái phiếu kho bạc, chứ không phải lãi suất chính sách của Fed mới quyết định lãi suất thế chấp. Vì vậy, trong khi tất cả mọi ánh mắt sẽ đổ dồn vào kế hoạch cắt giảm lãi suất của Chủ tịch Fed tiếp theo, hãy xem xét cách chủ tịch mới - cũng như các đối tác ở châu Âu, Vương quốc Anh và Nhật Bản - xử lí bảng cân đối kế toán.
Thứ ba, đánh giá lại tài sản công nghệ. Sự bùng nổ đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) đã được so sánh với bong bóng dot-com cuối những năm 1990. Nguy cơ định giá lại mạnh mẽ cổ phiếu của các tập đoàn công nghệ lớn có thể tạo ra sự bất ổn tài chính vĩ mô.
Trong suốt năm 2025, cổ phiếu của các công ty công nghệ Trung Quốc niêm yết tại Hong Kong (Trung Quốc) đã tăng vọt. Điển hình như là sản xuất chip Trung Quốc Semiconductor Manufacturing International Corporation (SMIC) đã đạt mức tăng trưởng 200% so với năm 2024. Mọi người đều đang bàn luận về mặt trái của sự bùng nổ AI, bao gồm cả nguy cơ bong bóng AI vỡ ở Mỹ. Nhưng điều đó dường như không làm Trung Quốc lo ngại. Alibaba gần đây đã công bố khoản đầu tư 52 tỷ USD vào AI trong 3 năm tới. So sánh con số đó với một dự án duy nhất do OpenAI dẫn đầu, dự kiến đầu tư 500 tỷ USD trong 4 năm tới. Vì vậy, cam kết của Trung Quốc đối với AI không phải là toàn diện đối với nền kinh tế của họ.
Tất nhiên, phần lớn sự hào hứng xung quanh công nghệ Trung Quốc - và niềm tin vào sự phát triển AI của nước này - trong năm qua được thúc đẩy bởi việc phát hành mô hình suy luận DeepSeek-R1 vào tháng 1/2025. Tuy nhiên, vẫn có giới hạn về việc Trung Quốc có thể tận dụng sự tăng trưởng của cổ phiếu công nghệ để thu hút đầu tư nước ngoài trở lại nước này đến mức nào. Ngoài ra, còn có thực tế là năm 2024 là một năm suy thoái mạnh, nên sự phục hồi vào năm 2025 chắc chắn sẽ rất mạnh mẽ.
Cần phải xem xét AI ngoài phạm vi nước Mỹ. Nếu bong bóng AI vỡ hoặc xẹp xuống vào năm 2026, Trung Quốc có thể sẽ không bị ảnh hưởng. Điều này có một số điểm tương đồng với những gì đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, khi các ngân hàng Mỹ và châu Âu chịu thiệt hại, nhưng các ngân hàng Trung Quốc, do không phụ thuộc vào nguồn tài chính phương Tây, đã tương đối không bị ảnh hưởng.
Đầu tàu kinh tế của thế giới
Nền kinh tế Mỹ thời Tổng thống Trump. Năm 2025, nền kinh tế Mỹ đã thể hiện khả năng phục hồi cao trước những quyết định khó lường của chính quyền, xung đột thương mại và đợt đóng cửa chính phủ dài nhất trong lịch sử. GDP của nước này tăng 1,6% so với cùng kì năm trước trong nửa đầu năm, phần lớn nhờ vào các khoản đầu tư quy mô lớn vào cơ sở hạ tầng AI.
Kinh tế Mỹ tiếp tục cho thấy khả năng phục hồi tương đối cao, mặc dù tốc độ tăng trưởng sẽ chậm lại. OECD dự kiến tăng trưởng 1,5% so với cùng kì năm trước vào năm tới, trong khi Fed đã nâng dự báo của mình thêm 0,5ppt lên 2,5% so với cùng kì năm trước. Cơ sở cho đánh giá mới nhất là lạm phát giảm xuống 2,4% (dù vẫn cao hơn mục tiêu 2% của Fed) và tình hình việc làm cải thiện.
Trong bối cảnh thâm hụt ngân sách cao, nợ công gia tăng và nguy cơ suy thoái kinh tế, hầu hết các nhà phân tích dự đoán nền kinh tế sẽ tránh được kịch bản tiêu cực vào năm 2026 nhờ các yếu tố: (i) Đầu tư vào AI và cơ sở hạ tầng. Năm 2025, các công ty công nghệ lớn nhất đã đầu tư khoảng 405 tỉ USD vào cơ sở hạ tầng AI (kế hoạch ban đầu là 250 tỉ USD). Con số này dự kiến sẽ đạt 432 tỉ vào năm 2026, tương đương khoảng 1,4% GDP. (ii) Kích thích tài chính. Đạo luật One Big Beautiful Bill Act (OBBBA), được thông qua vào tháng 7/2025, quy định giảm thuế và tăng chi tiêu chính phủ, sẽ hỗ trợ tăng trưởng trong nửa đầu năm 2026. (iii) Nới lỏng chính sách tiền tệ. Cục Dự trữ Liên bang (Fed) đã hạ lãi suất từ 4,5% xuống 3,75% vào năm 2025. Dự kiến sẽ tiếp tục giảm xuống 3,0-3,25% vào cuối năm 2026, mặc dù tốc độ nới lỏng sẽ chậm lại. (iv) Thỏa thuận ngừng chiến thương mại với Trung Quốc. Trung Quốc và Mỹ đã đạt được thỏa thuận ngừng chiến thương mại, giảm thuế suất thực tế đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc từ 42% xuống 32%. Điều này đã làm giảm sự bất ổn và có thể kích thích đầu tư vốn của các doanh nghiệp.

Con rồng kinh tế Trung Quốc. Những vấn đề mà nền kinh tế Trung Quốc hiện đang đối mặt: Sự bất ổn cao trong quan hệ thương mại với Mỹ và chủ nghĩa bảo hộ gia tăng trên toàn thế giới, căng thẳng địa chính trị, nợ công khổng lồ, nhu cầu nội địa yếu, áp lực giảm phát, cuộc khủng hoảng đang diễn ra trong lĩnh vực bất động sản và dân số già hóa. Tuy nhiên, đến nay rất ít điều có thể ngăn cản tốc độ tăng trưởng cao đáng kể của kinh tế Trung Quốc.
Chính quyền Trung Quốc có khả năng đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế khoảng 5% so với năm trước cho năm tới. Hiện tại, các nhà phân tích tại IMF, WB và OECD ước tính tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc năm 2026 trong khoảng 4,2-4,5%.
Các yếu tố sau đây có thể hỗ trợ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc năm 2026: (i) Khả năng cạnh tranh xuất khẩu. Bất chấp thuế quan của Mỹ, xuất khẩu của Trung Quốc đã cho thấy khả năng phục hồi đáng kể trong năm 2025. Trong giai đoạn tháng 1-11/2025, xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng 5,4% lên 3.400 tỉ USD. Thặng dư thương mại nước ngoài lần đầu tiên vượt quá 1.000 tỉ USD so với 884,7 tỉ USD năm ngoái. Goldman Sachs dự báo xuất khẩu sẽ tăng trưởng 5-6% mỗi năm, đây sẽ là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng.
(ii) Kích thích kinh tế. Chính quyền Trung Quốc theo truyền thống sử dụng nhiều công cụ khác nhau để hỗ trợ tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Năm 2025, tổng lượng kích thích kinh tế vào khoảng 1.100 tỉ USD. Chính quyền Trung Quốc sẽ duy trì chính sách tích cực nhằm kích thích tiêu dùng và đầu tư trong năm 2026. (iii) Năng suất được cải thiện. Thông qua tự động hóa hoàn toàn, robot hóa và ứng dụng AI vào sản xuất, Trung Quốc có thể giảm đáng kể tác động tiêu cực của dân số già hóa đối với nền kinh tế.
(iv) Ảnh hưởng của lĩnh vực bất động sản suy yếu. Mặc dù lĩnh vực bất động sản vẫn còn xa mới phục hồi, nhưng tác động tiêu cực của nó đối với nền kinh tế đang giảm dần. (v) Mở rộng nhu cầu nội địa. Sự dịch chuyển một phần sang tiêu dùng nội địa có thể bù đắp cho sự sụt giảm xuất khẩu.
Như vậy, cục diện thế giới ngày càng phân mảnh về cả địa chính trị và địa công nghệ, vô hình trung đã làm tăng chi phí vận hành của doanh nghiệp cũng như mức độ rủi ro của chính sách. Tuy nhiên, bối cảnh chạy đua công nghệ đòi hỏi những quyết tâm và mở ra cơ mới cho Việt Nam trong việc đầu tư cho năng lượng, hạ tầng trí tuệ nhân tạo, nguồn nhân lực và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.
Nhưng trên hết, khả năng thích ứng nhanh, tư duy dài hạn và năng lực thực thi hiệu quả sẽ quyết định việc đạt được các mục tiêu tăng trưởng hai chữ số mà Việt Nam đã đề ra. Bên cạnh đó, việc tận dụng các dòng dịch chuyển mới trong làn sóng chủ nghĩa bảo hộ tạo ra cũng là cơ hội để nâng cấp vị thế của doanh nghiệp nước ta trong chuỗi giá trị toàn.
Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/kinh-te-the-gioi-2026-thich-ung-voi-bat-dinh-va-rui-ro-373217.html












