Kinh tế Việt Nam giữa năm 2026 - Bài 1: Tăng trưởng cao, nhập siêu lớn
Việt Nam đang bước vào nửa cuối năm 2026 với mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, nhưng phía sau là ba lớp áp lực: Ngoại thương đảo chiều sang nhập siêu kèm rủi ro thuế quan từ Mỹ, dư địa chính sách tiền tệ ngày càng hẹp và thị trường vốn phân hóa giữa rủi ro trái phiếu bất động sản, với kỳ vọng nâng hạng chứng khoán.
Bài 1: Tăng trưởng cao, nhập siêu lớn
Việt Nam vừa được World Bank xếp vào nhóm thu nhập trung bình cao và đặt mục tiêu tăng trưởng GDP 10% cho năm 2026. Nhưng cán cân thương mại đã đảo chiều sang nhập siêu sau nhiều năm xuất siêu liên tiếp, trong khi rủi ro thuế quan và điều tra sở hữu trí tuệ từ Mỹ đang đặt thêm biến số cho nửa cuối năm.

Việt Nam đang bước vào nửa cuối năm 2026 với mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số. Ảnh minh họa
Mục tiêu tăng trưởng 10%
Theo bảng phân loại quốc gia thường niên được World Bank công bố ngày 1/7, Việt Nam chính thức được nâng từ nhóm thu nhập trung bình thấp lên nhóm thu nhập trung bình cao, với GNI bình quân đầu người tăng từ 4.490 USD (năm 2024) lên 4.970 USD (năm 2025) - vượt ngưỡng 4.636 USD áp dụng từ 1/7/2026. Cùng được nâng hạng với Việt Nam có Philippines, Sri Lanka, Jordan và Micronesia. Động lực chính đến từ tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu, khi kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2024 - 2025 tăng hơn 15%.
Cột mốc này đặt ra bài toán tiếp theo, đó là làm sao để Việt Nam không rơi vào "bẫy thu nhập trung bình" và hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Vì vậy, theo kế hoạch của Chính phủ, giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam cần đạt tốc độ tăng trưởng GDP trung bình 10%/năm, cao hơn hẳn mức 7 - 8%/năm trong quá khứ.
Để cụ thể hóa mục tiêu này cho năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 27/6, cập nhật kịch bản tăng trưởng cho các quý còn lại. Theo đó, để cả năm đạt tăng trưởng từ 10% trở lên, nửa cuối năm phải tăng 11,9%.
Nghị quyết cũng giao chỉ tiêu tăng trưởng riêng cho từng địa phương, trong đó TP Hồ Chí Minh 10,2%, Hà Nội 11%, Hải Phòng và Quảng Ninh 13%, Bắc Ninh 12,5%, Hưng Yên 11,5%, Đà Nẵng 11,2%. Giải pháp trọng tâm là giải ngân 100% kế hoạch đầu tư công năm 2026 (hơn 1 triệu tỷ đồng), gia hạn một số loại thuế, đồng thời yêu cầu Ngân hàng Nhà nước đảm bảo thanh khoản hệ thống và ưu tiên tín dụng cho các dự án trọng điểm.

Hiện kinh tế Việt Nam vẫn đang đối mặt nhập siêu lớn. Ảnh minh họa
Theo số liệu Tổng cục Thống kê, kết quả nửa đầu năm phần nào tạo được nền tảng: GDP quý 2/2026 tăng 8,39%, đưa tăng trưởng 6 tháng lên 8,18% - mức cao nhất trong nhiều năm. Động lực tăng trưởng tiếp tục đến từ công nghiệp chế biến, chế tạo, dòng vốn FDI giải ngân cao và tiêu dùng dịch vụ phục hồi, cùng sự dịch chuyển cơ cấu đầu tư nhờ Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân, giúp khu vực này tăng vốn đầu tư 12,8%.
Dù vậy, chặng đường phía trước được nhiều chuyên gia nhìn nhận là không dễ dàng. PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế Quốc tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, cho rằng để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 10% cho cả năm 2026, áp lực đặt lên hai quý cuối năm là rất lớn, khi nền kinh tế phải duy trì tốc độ tăng trưởng trên 11% trong nửa cuối năm.
Ở góc nhìn lạc quan hơn, Tiến sĩ Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, nhận định mức tăng trưởng 9 - 10% vẫn là mục tiêu khả thi, với điều kiện kiểm soát tốt các tác động từ thiên tai và biến động bên ngoài. Đầu tư công tiếp tục được xem là động lực chính, nếu giải ngân hết kế hoạch, khoản vốn này có thể đóng góp thêm khoảng 2 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP.
Áp lực từ cơ cấu và thị trường Mỹ
Trong khi tăng trưởng vĩ mô tích cực, ngoại thương lại xuất hiện diễn biến ngược chiều đáng chú ý. Sau gần một thập kỷ xuất siêu liên tục, Việt Nam nhập siêu 16,65 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2026, đảo ngược hoàn toàn so với mức xuất siêu 7,95 tỷ USD của cùng kỳ 2025. Xuất khẩu đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21% nhưng nhập khẩu tăng nhanh hơn, đạt 283,17 tỷ USD, tăng 33,4%.
Theo Bộ Công Thương, nhập siêu hiện nay chủ yếu phản ánh nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu và máy móc phục vụ sản xuất - riêng nhóm điện tử, máy vi tính và linh kiện đã chiếm hơn 38% tổng kim ngạch nhập khẩu, nên "vẫn trong tầm kiểm soát".
Đáng chú ý hơn là cơ cấu thị trường: Việt Nam xuất siêu sang Mỹ 75,3 tỷ USD, tăng 21,3%, nhưng đồng thời nhập siêu từ Trung Quốc lên tới 77,3 tỷ USD, tăng 39%. Rủi ro từ mô hình này đã hiện thực hóa một phần khi Mỹ mở liên tiếp các cuộc điều tra thương mại với Việt Nam.

Việt Nam nhập siêu 16,65 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2026. Ảnh minh họa
Cùng với đó, Mỹ đã áp thêm mức thuế 12,5% với một số nhóm hàng Việt Nam liên quan cáo buộc sử dụng lao động cưỡng bức. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng khẳng định, bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ là chính sách nhất quán của Việt Nam và các vấn đề liên quan sẽ tiếp tục được xử lý qua tham vấn, đối thoại giữa hai bên.
Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán VNDirect, kết quả cuối cùng của các cuộc điều tra theo Mục 301 vẫn là rủi ro chính sách quan trọng nhất đối với triển vọng xuất khẩu và nhóm ngành có kim ngạch lớn sang Mỹ sẽ chịu tác động trực tiếp nếu Mỹ áp thuế bổ sung, gồm dệt may (17,8 tỷ USD năm 2025), da giày (11,2 tỷ USD), gỗ và nội thất (9,5 tỷ USD), thủy sản (1,9 tỷ USD).
Thủy sản là một ví dụ cho thấy mức độ bất định của chính sách thuế quan Mỹ ngay cả khi đã có kết quả cuối cùng. Theo chuyên viên phân tích Nguyễn Đức Quân, Công ty Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV), xuất khẩu thủy sản Việt Nam đạt 5,8 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm, tăng 12,8%, trong đó tôm đạt 2,3 tỷ USD (+13%) và cá tra đạt 1,1 tỷ USD (+12,1%).
Tuy nhiên, doanh nghiệp trong ngành vẫn phải sống chung với rủi ro thuế. Ví dụ, một doanh nghiệp xuất khẩu tôm lớn nhận mức thuế chống bán phá giá cuối cùng tại Mỹ chỉ 4,5% - thấp hơn nhiều mức 25% đã trích lập dự phòng trước đó - nhưng ngay sau đó lại nhận mức thuế sơ bộ cho kỳ rà soát 2026 lên tới 10,76%, chủ yếu do phía Mỹ sử dụng dữ liệu chi phí đầu vào cao bất thường.
Cùng lúc theo đuổi mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam phải xử lý đồng thời hai bài toán cơ cấu: Cán cân thương mại đang lệch về nhập siêu và sự phụ thuộc vào thị trường Mỹ ở đầu ra, làm nền kinh tế Việt Nam thêm lớp rủi ro chính sách thương mại kéo dài.
Bài 2: Mặt bằng giá mới đã hình thành













