Kinh tế Việt Nam trước các biến số mới từ tình hình Trung Đông

Giá dầu tăng, dòng vốn dịch chuyển và tâm lý phòng vệ rủi ro gia tăng là những biến số mới với kinh tế Thế giới và Việt Nam, đòi hỏi những giải pháp điều hành kinh tế linh hoạt, nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và duy trì đà tăng trưởng từ các nhà quản lý.

Biến số chi phí và nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng nhiên liệu

Căng thẳng tại Trung Đông gia tăng từng ngày, kéo theo nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng và dầu mỏ dần hiện hữu.

Tại eo biển Hormuz, nơi đảm nhận việc lưu thông 20% lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên hóa lỏng bằng đường biển của thế giới mỗi ngày, hoạt động lưu thông gần như đình trệ, theo thông tin tổng hợp của Văn phòng Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV). Tương tự, tại bản tin số 9, Hiệp hội Đại lý, môi giới và dịch vụ hàng hải Việt Nam (VISABA) cho biết hàng loạt tàu chở dầu đã phải dừng hành trình, tập trung bên ngoài vịnh Oman hoặc hủy bỏ chuyến đi giữa chừng.

Không phận trên Iran, Iraq, Kuwait và Jordan gần như không có chuyến bay nào. Ảnh: Flightradar24 (cập nhật vào lúc 10:00 sáng, ngày 2-3)

Không phận trên Iran, Iraq, Kuwait và Jordan gần như không có chuyến bay nào. Ảnh: Flightradar24 (cập nhật vào lúc 10:00 sáng, ngày 2-3)

Còn hi vọng phục hồi tuyến đường qua kênh đào Suez và Biển Đỏ trong năm 2026 trở nên vô cùng mong manh, khi phong trào Houthi tại Yemen phát tín hiệu sẽ nối lại ngay lập tức các cuộc tấn công vào tàu thương mại.

Ngay lập tức, Hiệp hội Vận tải biển quốc tế và Baltic (BIMCO) đưa ra cảnh báo rủi ro cao với các tàu có liên kết với Mỹ, hoặc Israel. Đồng thời, lưu ý rủi ro nhận dạng sai khiến mọi tàu thuyền qua đây đều gặp nguy hiểm.

Trước tình hình chiến sự khốc liệt, các đơn vị lớn trong ngành vận tải container, như CMA CGM, Maersk và Hapag-Lloyd đồng loạt thông báo chuyển hướng tàu đi vòng qua Mũi Hảo Vọng (Nam Phi) để tránh vùng chiến sự, trong khi MSC tạm thời ngừng nhận đặt chỗ đến Trung Đông. Việc phải thay đổi hải trình vòng qua Nam Phi khiến thời gian vận chuyển hàng hóa giữa châu Á và châu Âu bị kéo dài thêm khoảng 10-14 ngày.

Hệ lụy tất yếu của sự chuyển hướng này là sự gia tăng chi phí logistics. Theo đánh giá từ Văn phòng Ban IV, giá cước container dự báo có thể tăng 2-3 lần mức bình thường, tức vượt mốc 5.000 đô la Mỹ/container 40 feet và lặp lại kịch bản của giai đoạn 2024-2025. Ngoài ra, các đơn vị bảo hiểm rủi ro chiến tranh đang rà soát và tăng phí nhanh chóng đối với các tàu hoạt động tại khu vực vùng Vịnh.

Bên cạnh đó, nguy cơ gián đoạn nguồn cung dầu mỏ đã đẩy giá dầu thô Brent tăng vọt lên mức 72,87 đô la/thùng, kéo theo sự gia tăng của phụ phí nhiên liệu trong cả vận tải biển và hàng không.

Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, Thanh Hóa, một trong những dự án lớn ở khu vực Nghi Sơn. Ảnh minh họa: TL

Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, Thanh Hóa, một trong những dự án lớn ở khu vực Nghi Sơn. Ảnh minh họa: TL

Với Việt Nam, tác động chủ yếu qua giá năng lượng, chuỗi cung ứng và dòng vốn. Thực tế, ngay khi phát sinh căng thẳng, các hãng tàu nước ngoài đồng loạt tăng phụ phí xếp dỡ, cùng nhiều loại phí dịch vụ, với mức tăng khoảng 10-20%, theo ghi nhận của VISABA.

Với bối cảnh trên, cùng việc nhiên liệu chiếm và nhóm dịch vụ giao thông chiếm khoảng 4% và 9,8% trong rổ tính CPI của Việt Nam, các chuyên gia của Công ty chứng khoán VNDirect dự báo lạm phát có thể tiệm cận mức 4,5% nếu giá dầu bình quân năm 2026 dao động trong khoảng 90-100 đô la/thùng.

Bên cạnh rủi ro lạm phát tăng cao, khả năng nền kinh tế bị co hẹp, do gián đoạn nguồn cung và thiếu hụt đầu vào, cũng có thể xảy ra, theo TS Vũ Đình Ánh – chuyên gia kinh tế.

Dẫn chứng, ông cho biết Việt Nam nhập khẩu trên khoảng 10 triệu m3 xăng dầu, phần lớn là diesel và xăng máy bay, với nguồn nhập lớn nhất là Hàn Quốc, do có hiệp định miễn thuế. Nhưng Hàn Quốc không tự sản xuất dầu thô mà phải nhập khẩu, với nguồn nhập chủ yếu từ Trung Đông. Như vậy, sự ảnh hưởng gián tiếp này sẽ đe dọa nguồn cung các sản phẩm xăng dầu chế biến của Việt Nam.

Một lĩnh vực khác cũng chịu tác động rất mạnh là khí hóa lỏng (LNG), do Việt chỉ tự chủ khoảng 40-50% nhu cầu trong nước, còn lại phải nhập khẩu. Đáng lo ngại, nguồn nhập khẩu chủ yếu từ Qatar – một quốc gia nằm trong vòng xoáy xung đột - khiến nước ta đối mặt với nguy cơ khủng hoảng nguồn cung khí hóa lỏng.

Ngoài ra, Việt Nam dự kiến nhập khẩu khoảng 12 triệu tấn dầu thô năm 2025, gồm 10 triệu tấn từ Kuwait – một quốc gia khác tại khu vực Trung Đông và chịu tác động trực tiếp từ xung đột.

“Nếu nguồn cung từ Kuwait bị đứt gãy, buộc phải có phương án thay thế ngay lập tức, không thể đóng cửa hai nhà máy Dung Quất và Nghi Sơn vì thiếu nguồn dầu này”, ông Ánh nói và cho rằng vấn đề đứt gãy nguồn cung có thể xảy ra trước khi giá hay chi phí vận tải tăng.

Bên cạnh những rủi ro vừa nêu, Việt Nam đang trong quá trình tăng cường quan hệ thương mại, đầu tư, dịch vụ, du lịch với khu vực Trung Đông, đặc biệt là Qatar, UAE, Kuwait, Ả Rập Xê-út và phần nào đó là Oman.

“Tôi được biết có những dự án của các quỹ đầu tư tài chính từ Trung Đông vào Việt Nam. Nếu cuộc chiến xảy ra, các dự án này ít nhất sẽ phải tạm dừng, thậm chí nếu kéo dài có thể phá hủy toàn bộ kế hoạch triển khai. Điều này sẽ tác động đến cả dòng hàng hóa, dòng vốn đầu tư, dòng khách du lịch cũng như các dịch vụ khác”, ông Ánh kết luận.

Duy trì sự ổn định giữa biến số bất định

Những xung đột, tranh chấp địa – chính trị và thương mại liên tục phát sinh thời gian qua đòi hỏi các nhà điều hành kinh tế Việt Nam phải có đối sách để giảm thiểu thiệt hại xuống mức thấp nhất.

“Nếu không nhập được dầu từ Kuwait cho nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, thì nhập dầu từ đâu? Ai sẽ đứng ra nhập? Phải trả lời ngay những câu hỏi đó”, ông Ánh nói và cho rằng Việt Nam hoàn toàn có thể giảm nhẹ thách thức và biến chúng thành cơ hội mới.

Cũng theo ông Ánh, cần khai thác tốt nhất sự ổn định - yếu tố ngày càng hiếm hoi trên thế giới hiện nay. Thậm chí, yếu tố này sẽ là lợi thế lớn của Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thế giới bất ổn.

“Hiện không chỉ có chiến tranh lạnh hay nóng, mà còn có cả ‘chiến tranh ấm’ - nửa này nửa kia. Ngay cạnh chúng ta cũng có hiện tượng như vậy”, ông Ánh lưu ý.

Đồng quan điểm, Đại sứ Nguyễn Quang Khai cho rằng Việt Nam nổi lên là một quốc gia ổn định về chính trị trong bối cảnh nhiều quốc gia đang bận rộn và bất ổn. Đây cũng là yếu tố khiến nhiều quốc gia chọn Việt Nam là nơi để tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư.

Do đó, Chính phủ cần có chính sách mềm dẻo và cởi mở hơn nữa để thu hút đầu tư, tăng cường quan hệ kinh tế thương mại với tất cả các quốc gia.

“Phải có chính sách tăng cường quan hệ với những đối tác mới, đặc biệt là khu vực châu Á ngay sát sườn chúng ta. Như vậy mới tránh được những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc chiến đang diễn ra ở Trung Đông”, Đại sứ Khai nói tại một tọa đàm về chiến sự Trung Đông ngày 3-3.

Với các yếu tố trong nước như lạm phát, các chuyên gia của VNDirect cho rằng dư địa chính sách vẫn còn, khi Chính phủ có thể linh hoạt sử dụng quỹ bình ổn giá, điều chỉnh thuế nhập khẩu, hoặc thuế bảo vệ môi trường, nhằm giảm áp lực lên mặt bằng giá trong nước.

“Thách thức lớn nhất là duy trì sự linh hoạt trong điều hành để kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và bảo đảm đà tăng trưởng. Chuẩn bị kịch bản chính sách phù hợp và củng cố nền tảng vĩ mô sẽ là điều kiện quan trọng để giảm thiểu tác động từ các cú sốc bên ngoài”, chuyên gia của VNDirect lưu ý.

Vân Phong

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/kinh-te-viet-nam-truoc-cac-bien-so-moi-tu-tinh-hinh-trung-dong/