KỲ 2: Đảng lãnh đạo kiến tạo phát triển - từ quản lý sang quản trị xã hội hiện đại

Cỗ máy hành chính không thể mãi lặp lại vòng quay chờ phát sinh vấn đề rồi mới báo cáo, xử lý hậu quả. Trong kỳ 2 của loạt bài, Thiếu tá, Tiến sĩ Nguyễn Chí Thành, Giảng viên khoa Nghiệp vụ cơ bản, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân tiếp tục phân tích chiều sâu của sự chuyển dịch từ quản lý truyền thống sang năng lực quản trị xã hội hiện đại, nơi công nghệ và dữ liệu phục vụ trực tiếp cho chất lượng sống của Nhân dân.

Quản trị xã hội hiện đại đòi hỏi sự dịch chuyển từ việc chạy theo vụ việc sang năng lực dự báo và phòng ngừa rủi ro từ sớm thông qua hệ thống dữ liệu số.

Quản trị xã hội hiện đại đòi hỏi sự dịch chuyển từ việc chạy theo vụ việc sang năng lực dự báo và phòng ngừa rủi ro từ sớm thông qua hệ thống dữ liệu số.

Mô hình phát triển mới đòi hỏi tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Đảng ta khẳng định: “Đổi mới mô hình phát triển trước hết là tạo đột phá về thể chế, đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia tạo ra năng lực phát triển mới".

Rõ ràng, khi mục tiêu phát triển không còn chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế mà mở rộng tới chất lượng sống, an ninh con người, niềm tin xã hội và hạnh phúc của Nhân dân; khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trở thành những động lực chủ yếu; khi các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường và an ninh ngày càng đan xen, thì yêu cầu đặt ra đối với năng lực lãnh đạo cũng thay đổi. Không chỉ xác định đúng đường hướng, điều quan trọng hơn là làm thế nào để chủ trương nhanh chóng chuyển hóa thành hành động, nguồn lực được khơi thông và những vấn đề của thực tiễn được giải quyết hiệu quả.

Thể chế minh bạch và thủ tục hành chính thông suốt không chỉ là công cụ quản lý mà đã trở thành nguồn lực trực tiếp khơi thông đà phát triển.

Thể chế minh bạch và thủ tục hành chính thông suốt không chỉ là công cụ quản lý mà đã trở thành nguồn lực trực tiếp khơi thông đà phát triển.

Từ yêu cầu đó, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong mô hình phát triển mới không chỉ là đổi mới lề lối, phương pháp công tác, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực kiến tạo, tổ chức và dẫn dắt phát triển. Nếu mô hình phát triển mới đặt trọng tâm vào chất lượng thể chế, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn lực con người và khả năng thích ứng trước những biến động nhanh chóng, thì phương thức lãnh đạo cũng phải tạo được năng lực tương ứng cho cả hệ thống. Có thể nhận diện sự chuyển đổi này trên ba phương diện chủ yếu:

Một là, chuyển mạnh từ ban hành chủ trương sang kiến tạo năng lực thực thi, lấy kết quả thực tiễn làm thước đo.

Chủ trương đúng là tiền đề, nhưng từ một chủ trương đúng đến kết quả trong thực tiễn vẫn còn một khoảng cách. Chính sách đã có nhưng triển khai chậm; nguồn lực có nhưng chưa huy động được; một công việc đi qua nhiều cơ quan, nhiều cấp nhưng khi vướng mắc lại khó xác định nơi chịu trách nhiệm; vấn đề thực tiễn thay đổi nhanh nhưng cơ chế xử lý chưa theo kịp... đều có thể làm giảm hiệu lực của quyết sách phát triển. Bởi vậy, vấn đề ngày càng không chỉ là “quyết định đúng” mà còn phải “làm được” và “làm đến cùng”.

Tinh thần ấy được thể hiện khá rõ trong yêu cầu “6 rõ” được Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh: “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”. Điều cốt lõi của “6 rõ” là đưa trách nhiệm từ những quy định chung về từng công việc, từng chủ thể và từng kết quả cụ thể; qua đó khắc phục tình trạng nhiệm vụ được giao nhưng trách nhiệm phân tán, công việc qua nhiều đầu mối nhưng kết quả cuối cùng lại khó quy trách nhiệm.

Thực tiễn cho thấy điều người dân và doanh nghiệp quan tâm không phải một hồ sơ đã đi qua bao nhiêu cơ quan, một vấn đề đã được đưa ra bao nhiêu cuộc họp hay có thêm bao nhiêu văn bản được ban hành, mà là vướng mắc có được giải quyết hay không, giải quyết trong bao lâu và kết quả cuối cùng là gì. Vì thế, hiệu quả lãnh đạo ngày càng phải được phản ánh bằng những chuyển biến có thể nhận biết trong thực tiễn: điểm nghẽn được tháo gỡ, công việc được giải quyết nhanh hơn, nguồn lực được đưa vào phát triển và người dân thực sự cảm nhận được sự thay đổi.

Đây chính là bước chuyển từ lãnh đạo thông qua giao nhiệm vụ sang lãnh đạo gắn với quản trị kết quả. Quy trình, thủ tục vẫn cần thiết; kỷ luật, kỷ cương vẫn phải nghiêm, nhưng quy trình phải phục vụ công việc, không thể trở thành nơi trú ẩn của tâm lý né tránh trách nhiệm.

Hai là, chuyển từ tư duy huy động, phân bổ nguồn lực sang kiến tạo môi trường và khơi thông các nguồn lực phát triển.

Trong mô hình phát triển mới, phạm vi nguồn lực không chỉ đơn thuần là vốn, tài nguyên, cơ sở vật chất, đó còn là tri thức, dữ liệu, công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo, sức mạnh của doanh nghiệp, đội ngũ trí thức và sức sáng tạo của mỗi người dân. Nhiều nguồn lực trong số đó không thể được tạo ra hoặc huy động đơn thuần bằng cơ chế phân bổ hành chính, mà phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của môi trường thể chế.

Điều này đặt ra một yêu cầu mới đối với vai trò lãnh đạo: không chỉ quyết định nguồn lực được phân bổ vào đâu, mà quan trọng hơn là tạo ra những điều kiện để nguồn lực được hình thành, lưu chuyển và phát huy hiệu quả. Một ý tưởng đổi mới sáng tạo có thể không đi vào cuộc sống nếu quy định chưa theo kịp; vốn của xã hội có thể chưa trở thành đầu tư nếu môi trường kinh doanh còn những rào cản; một địa phương có tiềm năng nhưng khó tạo đột phá nếu thiếu quyền chủ động; một cán bộ nhìn thấy vấn đề nhưng không dám quyết định nếu thẩm quyền và trách nhiệm chưa được xác lập tương xứng.

Bởi vậy, trong tư duy kiến tạo phát triển, tháo gỡ điểm nghẽn cũng chính là tạo ra nguồn lực. Một quy định bất hợp lý được tháo bỏ, một thủ tục được rút ngắn, một thẩm quyền được phân cấp đúng chỗ hay một cơ chế mới mở đường cho đổi mới sáng tạo đều có thể tạo thêm không gian phát triển mà không nhất thiết phải tăng thêm nguồn lực vật chất.

Theo nghĩa đó, thể chế không chỉ là công cụ quản lý mà bản thân nó đã trở thành một nguồn lực của phát triển. Thể chế tốt tạo niềm tin, giảm chi phí, khuyến khích sáng tạo và làm cho những nguồn lực đang nằm rải rác trong xã hội có thể hội tụ thành động lực phát triển. Đây là một biểu hiện quan trọng của sự chuyển đổi từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo.

Ba là, chuyển từ lãnh đạo, điều hành chủ yếu theo ngành, lĩnh vực sang nâng cao năng lực quản trị và giải quyết các vấn đề phát triển.

Một đặc điểm nổi bật của xã hội hiện đại là các vấn đề phát triển ngày càng có tính liên ngành, liên vùng và đa chủ thể. Ùn tắc giao thông không còn chỉ là câu chuyện của ngành giao thông; ô nhiễm môi trường không thể chỉ giao cho cơ quan quản lý môi trường; già hóa dân số không đơn thuần là vấn đề an sinh; chuyển đổi số càng không phải công việc riêng của ngành công nghệ. Mỗi vấn đề đều chứa đựng những quan hệ đan xen giữa kinh tế, xã hội, pháp luật, công nghệ, môi trường và hành vi của nhiều chủ thể.

Thực tế đó đòi hỏi một cách tiếp cận khác. Nếu tư duy quản lý thường bắt đầu bằng câu hỏi “việc này thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của cơ quan nào?”, thì tư duy quản trị phát triển phải tiến thêm một bước: “vấn đề cần được giải quyết như thế nào, cần những chủ thể nào cùng tham gia và ai chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng?”. Thay đổi cách đặt câu hỏi cũng đồng nghĩa với thay đổi cách phối hợp, phân cấp, phân quyền và đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy.

Song, kiến tạo không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý; trao quyền không đồng nghĩa với giảm kiểm soát. Ngược lại, càng phân cấp, phân quyền và mở rộng không gian chủ động thì trách nhiệm càng phải rõ, kỷ luật càng phải nghiêm và quyền lực càng phải được kiểm soát chặt chẽ. Người có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm không chỉ khi quyết định sai, mà cả khi né tránh, đùn đẩy hoặc không quyết định những vấn đề thuộc trách nhiệm của mình, làm chậm tiến độ và bỏ lỡ cơ hội phát triển.

Do đó, phương thức lãnh đạo trong điều kiện mới phải xử lý hài hòa những mối quan hệ tưởng như đối lập: giữa định hướng và trao quyền, giữa kỷ luật và sáng tạo, giữa kiểm soát quyền lực và khuyến khích dám nghĩ, dám làm, giữa tuân thủ quy trình và trách nhiệm về kết quả. Chính khả năng giải quyết hài hòa những mối quan hệ này quyết định mức độ linh hoạt, hiệu lực và sức thích ứng của hệ thống trước những vấn đề phát triển ngày càng phức tạp.

Ba chuyển đổi trên cùng hướng tới một yêu cầu chung: làm cho tầm nhìn và chủ trương của Đảng được chuyển hóa nhanh hơn, hiệu quả hơn thành năng lực hành động của Nhà nước, sức sáng tạo của xã hội và những kết quả phát triển mà Nhân dân có thể trực tiếp cảm nhận. Thước đo của năng lực lãnh đạo vì thế không chỉ nằm ở việc xác định đúng đường hướng, mà còn ở khả năng tổ chức thực hiện, kiến tạo thể chế, điều phối các chủ thể, tháo gỡ điểm nghẽn và mở ra những không gian phát triển mới.

Chính từ những chuyển đổi đó, yêu cầu “từ quản lý xã hội sang quản trị xã hội hiện đại” không còn đơn thuần là sự thay đổi về thuật ngữ. Đó là sự thay đổi trong logic vận hành của cả hệ thống: từ chú trọng quy trình sang coi trọng cả quy trình và kết quả; từ xử lý công việc theo từng ngành, từng lĩnh vực sang giải quyết các vấn đề phát triển; từ phản ứng khi vấn đề đã phát sinh sang nâng cao năng lực dự báo, phòng ngừa; từ quản trị chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sang quản trị ngày càng dựa trên dữ liệu, công nghệ và bằng chứng thực tiễn. Đây chính là chiều sâu của yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo khi đất nước chuyển sang một mô hình phát triển mới.

Bài toán đô thị không tự chia theo ranh giới ngành. Việc giải quyết các điểm nghẽn đòi hỏi năng lực phối hợp liên thông và gắn trách nhiệm đến cùng đối với kết quả cuối.

Bài toán đô thị không tự chia theo ranh giới ngành. Việc giải quyết các điểm nghẽn đòi hỏi năng lực phối hợp liên thông và gắn trách nhiệm đến cùng đối với kết quả cuối.

Từ “quản lý xã hội” đến “quản trị xã hội hiện đại”

Ngày 12/4/2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng có phát biểu chỉ đạo quan trọng với lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, đồng chí yêu cầu chuyển mạnh từ phương thức quản lý truyền thống sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và công nghệ số, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Trong thực tiễn, một đô thị ùn tắc không thể chỉ chờ đến khi tắc đường mới phân luồng. Một nguy cơ về an ninh, trật tự không thể chỉ xử lý khi vụ việc đã xảy ra. Những vấn đề về an sinh cũng không nên chỉ được nhận diện khi người dân đã rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Nếu quản lý luôn đi theo vòng quay “phát sinh vấn đề – báo cáo – xử lý hậu quả”, thì trong nhiều trường hợp, chính sách sẽ luôn đi sau thực tiễn.

Trong một xã hội vận động ngày càng nhanh, giới hạn ấy càng bộc lộ rõ. Không gian thực và không gian số đan xen; một biến động kinh tế có thể nhanh chóng tạo ra những hệ lụy xã hội; một vụ việc nhỏ ở cơ sở có thể trở thành điểm nóng xã hội, thậm chí là điểm nóng chính trị - xã hội nếu chậm được nhận diện và xử lý. Vì thế, quản trị xã hội hiện đại trước hết đòi hỏi khả năng dự báo và ứng phó.

Tinh thần này được thể hiện trong chủ trương chuyển từ phương thức quản lý thiên về hành chính và xử lý hậu quả sang quản trị chủ động, dựa nhiều hơn vào dữ liệu, dự báo và phòng ngừa từ sớm, từ xa. Điểm đáng chú ý không nằm ở sự thay đổi tên gọi từ “quản lý” sang “quản trị”, mà ở cách Đảng ta nhận diện, tiếp cận và giải quyết các vấn đề xã hội.

Dữ liệu và công nghệ tạo ra những khả năng mà phương thức quản lý truyền thống khó có được. Dữ liệu giao thông có thể cho biết những khu vực thường xuyên ùn tắc; dữ liệu dân cư, việc làm và an sinh giúp nhận diện những nhóm cần hỗ trợ; thông tin về an ninh, trật tự có thể góp phần cảnh báo sớm những địa bàn tiềm ẩn nguy cơ. Khi các nguồn dữ liệu được kết nối và sử dụng hiệu quả, quản trị có thể chuyển dần từ “chạy theo vụ việc” sang nhận diện vấn đề, từ xử lý hậu quả sang dự báo và phòng ngừa.

Bởi vậy, chuyển đổi số trong quản trị xã hội không đơn giản là đưa thủ tục từ giấy lên màn hình. Giá trị lớn hơn là dùng công nghệ để hiểu thực tiễn đầy đủ hơn, ra quyết định nhanh hơn và phục vụ người dân tốt hơn. Công nghệ càng hiện đại thì mục tiêu cuối cùng càng phải rõ: giải quyết tốt hơn những vấn đề của con người.

Nhưng công nghệ không thể tự giải quyết mọi việc. Thực tiễn Thủ đô Hà Nội cho thấy, nhiều vấn đề đô thị không còn nằm gọn trong phạm vi quản lý của một ngành hay một cơ quan. Ùn tắc giao thông là một ví dụ. Giải quyết một điểm ùn tắc không chỉ là tổ chức lại luồng tuyến hay điều chỉnh đèn tín hiệu, mà phía sau còn là câu chuyện về quy hoạch đô thị, mật độ xây dựng, hạ tầng giao thông, vận tải công cộng, bãi đỗ xe và cả phân bố dân cư. Vì thế, Hà Nội đang tiếp cận bài toán này bằng nhiều nhóm giải pháp đồng thời, từ quy hoạch, phát triển hạ tầng đến ứng dụng công nghệ trong điều hành giao thông.

Đưa thẩm quyền và năng lực giải quyết vấn đề xuống sát cấp cơ sở giúp nhận diện sớm biến động, xử lý dứt điểm mâu thuẫn ngay từ nơi chúng phát sinh.

Đưa thẩm quyền và năng lực giải quyết vấn đề xuống sát cấp cơ sở giúp nhận diện sớm biến động, xử lý dứt điểm mâu thuẫn ngay từ nơi chúng phát sinh.

Hay câu chuyện úng ngập đô thị cũng vậy. Một trận mưa lớn gây ngập đường không đơn thuần là vấn đề của hệ thống cống thoát nước. Nó liên quan đến quy hoạch hồ điều hòa, hệ thống sông, mương, trạm bơm, tiến độ các dự án hạ tầng, quản lý xây dựng và khả năng tiêu thoát nước của từng khu vực. Trong kế hoạch chống úng ngập năm 2026, Hà Nội đã phải phân công đồng thời cho các cơ quan phụ trách xây dựng, nông nghiệp và môi trường, quy hoạch - kiến trúc cùng chính quyền xã, phường tham gia xử lý.

Những ví dụ ấy cho thấy một thực tế: vấn đề của đô thị vốn không tự chia mình theo ranh giới của các cơ quan quản lý. Nếu mỗi đơn vị chỉ làm tròn phần việc thuộc lĩnh vực của mình mà thiếu một cơ chế điều phối chung, rất dễ xuất hiện nghịch lý: từng khâu đều đúng quy trình, nhưng vấn đề cuối cùng vẫn chưa được giải quyết. Đây cũng chính là lý do quản trị xã hội hiện đại phải hướng mạnh hơn tới liên thông, phối hợp và trách nhiệm đối với kết quả cuối cùng.

Quản trị hiện đại vì thế đòi hỏi bộ máy phải liên thông hơn, phối hợp tốt hơn và trách nhiệm phải rõ đến cùng. Đây cũng là lý do yêu cầu mỗi việc chỉ giao một cơ quan đầu mối chủ trì, gắn với phân cấp, phân quyền và xác định rõ trách nhiệm, ngày càng được nhấn mạnh trong tổ chức và vận hành bộ máy.

Phân cấp, phân quyền cũng cần được nhìn từ góc độ ấy. Mục đích không phải đơn thuần là chuyển thêm việc xuống cấp dưới, mà là đưa thẩm quyền và năng lực giải quyết vấn đề đến gần nơi vấn đề phát sinh. Việc nào cơ sở hiểu rõ hơn, xử lý nhanh hơn thì cần tạo điều kiện để cơ sở chủ động giải quyết; cấp trên tập trung nhiều hơn vào những vấn đề chiến lược, điều phối, kiểm tra và những nhiệm vụ vượt quá khả năng của cấp dưới. Đi cùng với thẩm quyền phải là nguồn lực, năng lực và trách nhiệm tương ứng.

Đặc biệt, trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, vị trí của cấp cơ sở càng trở nên quan trọng. Đây không chỉ là nơi thực hiện những nhiệm vụ được giao, mà còn là nơi gần dân nhất, nhận biết sớm nhất những chuyển động của đời sống và trực tiếp xử lý phần lớn những vấn đề hằng ngày của người dân. Một nền quản trị tốt vì thế không chỉ được nhìn từ những quyết sách ở cấp vĩ mô, mà còn được cảm nhận từ những việc rất cụ thể: một thủ tục có thuận tiện hơn không, một kiến nghị có được phản hồi kịp thời không, một vấn đề của khu dân cư có được giải quyết ngay từ khi mới phát sinh hay không.

Suy cho cùng, chuyển từ “quản lý xã hội” sang “quản trị xã hội hiện đại” là chuyển từ tư duy phản ứng sang chủ động, từ chia cắt sang phối hợp, từ nặng về quy trình sang coi trọng kết quả, đồng thời đưa năng lực giải quyết vấn đề đến gần người dân hơn.

Thiếu tá, Tiến sĩ Nguyễn Chí Thành (Giảng viên Khoa Nghiệp vụ cơ bản, Trường Đại học Cảnh sát Nhân dân)

Nguồn ANTĐ: https://anninhthudo.vn/ky-2-dang-lanh-dao-kien-tao-phat-trien-tu-quan-ly-sang-quan-tri-xa-hoi-hien-dai-post669807.antd