KỲ 3: Kiến tạo hệ sinh thái lưỡng dụng - biến tiềm lực bảo vệ Tổ quốc thành sức mạnh phát triển quốc gia

Hệ thống định vị GPS hay mạng Internet toàn cầu đều khởi nguồn từ những bài toán quân sự trước khi định hình lại nền kinh tế thế giới. Tại Việt Nam, tư duy phát triển quốc phòng, an ninh đang bước sang giai đoạn kiến tạo một hệ sinh thái lưỡng dụng toàn diện. Kỳ cuối trong loạt bài của Thiếu tá, ThS Hoàng Duy Quân (Công an thành phố Bắc Ninh) vạch rõ con đường kết nối các nguồn lực đơn lẻ thành sức mạnh công nghệ tự chủ của quốc gia.

Làm chủ công nghệ lõi đòi hỏi quá trình tổ chức sản xuất, tích lũy tri thức và kết nối các nguồn lực trong một hệ sinh thái thống nhất.

Làm chủ công nghệ lõi đòi hỏi quá trình tổ chức sản xuất, tích lũy tri thức và kết nối các nguồn lực trong một hệ sinh thái thống nhất.

Từ một công nghệ được nghiên cứu đến một sản phẩm có khả năng ứng dụng rộng rãi, từ một doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng, an ninh đến mạng lưới nghiên cứu, sản xuất và đổi mới sáng tạo, giá trị lưỡng dụng chỉ có thể được phát huy đầy đủ khi những nguồn lực riêng lẻ được kết nối trong một hệ sinh thái thống nhất. Đó cũng là yêu cầu đặt ra trong quá trình hiện thực hóa tư duy của Đảng về kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội: không chỉ làm chủ công nghệ, phát huy hiệu quả đầu tư mà còn hình thành năng lực phát triển lâu dài, góp phần củng cố sức mạnh tổng hợp của quốc gia.

Một hệ sinh thái phát triển cần nhiều sản phẩm công nghệ

Để một thiết bị xe tự hành có thể hoạt động, cần rất nhiều sản phẩm công nghệ, từ dây chuyền lắp ráp, công nghệ vật liệu, cảm biến, điều khiển, truyền dẫn dữ liệu, phần mềm, trí tuệ nhân tạo đến cơ sở hạ tầng như vạch kẻ đường, biển báo, đèn điều khiển đồng bộ… Mỗi thành tố có thể thuộc về một cơ sở nghiên cứu, một doanh nghiệp hoặc một nhóm chuyên gia khác nhau. Một số công nghệ được phát triển từ yêu cầu đặc thù của quốc phòng, an ninh, trong khi những công nghệ khác có thể bắt nguồn từ hoạt động sản xuất, kinh doanh và nghiên cứu dân sự. Khi các thành tố đó được kết nối phù hợp, chúng sẽ đồng thời tạo ra một sản phẩm phục vụ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và có khả năng hình thành các ứng dụng trong nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, quản lý tài nguyên và phòng, chống thiên tai.

Kỳ đầu của loạt bài này đã làm rõ sự phát triển trong tư duy chiến lược của Đảng về mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh với phát triển đất nước, Kỳ thứ hai đặt ra bài toán phát huy giá trị kép của nguồn lực đầu tư, thì vấn đề tiếp theo là tổ chức những nguồn lực ấy như thế nào để tạo thành sức mạnh chung. Chìa khóa cho lời giải của bài toán này nằm ở kiến tạo hệ sinh thái lưỡng dụng.

Thế giới đã chứng kiến sự thành công của nhiều quốc gia trong kiến tạo hệ sinh thái lưỡng dụng. Ở Mỹ, hệ thống định vị toàn cầu GPS được phát triển ban đầu từ nhu cầu quân sự nhưng sau khi được mở rộng cho mục đích dân sự, công nghệ này đã trở thành một hạ tầng quan trọng của đời sống kinh tế và xã hội, được ứng dụng rộng rãi trong giao thông, hàng hải, hàng không, logistics, nông nghiệp chính xác và các thiết bị di động. Ở chiều ngược lại, sự phát triển mạnh mẽ của hạ tầng Internet và công nghệ số dân sự đã tạo ra những nền tảng có giá trị ngày càng lớn đối với quốc phòng, an ninh.

World Wide Web là một ví dụ tiêu biểu cho chiều vận động này. Web được Tim Berners-Lee phát triển tại CERN với mục tiêu ban đầu là tạo ra một hệ thống chia sẻ thông tin giữa các nhà khoa học, nhưng sau đó nhanh chóng trở thành nền tảng quan trọng của kinh tế số, truyền thông và xã hội hiện đại, đồng thời tạo ra một không gian công nghệ mà các quốc gia phải tính đến trong bảo đảm an ninh mạng và chủ quyền số.

Hai trường hợp trên cho thấy sức mạnh của một hệ sinh thái công nghệ không chỉ nằm ở nguồn gốc quân sự hay dân sự của từng công nghệ, mà ở khả năng để các thành tựu công nghệ được lan tỏa, tái sử dụng và tiếp tục phát triển giữa các lĩnh vực khác nhau. Chính sự tương tác đó làm gia tăng đồng thời năng lực kinh tế, khoa học, công nghệ và tiềm lực quốc phòng, an ninh của quốc gia.

Đối với Việt Nam, tư duy lưỡng dụng cần được hiện thực hóa không chỉ ở cấp độ công trình, công nghệ hay sản phẩm, mà còn ở cấp độ tổ chức và vận hành hệ thống. Đó là quá trình kết nối nhu cầu quốc phòng, an ninh với năng lực nghiên cứu, sản xuất của nền kinh tế; kết nối các doanh nghiệp trong và ngoài lực lượng vũ trang; kết nối cơ sở nghiên cứu với thị trường và những yêu cầu thực tiễn của đất nước. Từ những mối liên kết ấy, tiềm lực bảo vệ Tổ quốc có thêm điều kiện chuyển hóa thành năng lực công nghệ, công nghiệp và đổi mới sáng tạo, đồng thời những thành tựu phát triển tiếp tục góp phần củng cố sức mạnh quốc phòng, an ninh.

Viettel High Tech giới thiệu mạng riêng 5G và hàng loạt thiết bị tác chiến hiện đại tại Triển lãm Công nghiệp quốc phòng quốc tế

Viettel High Tech giới thiệu mạng riêng 5G và hàng loạt thiết bị tác chiến hiện đại tại Triển lãm Công nghiệp quốc phòng quốc tế

Những mô hình đang mở đường

Trong quá trình phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh của Việt Nam, những mô hình kết nối giữa nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng công nghệ đang cho thấy các hướng tiếp cận khác nhau đối với việc hình thành hệ sinh thái lưỡng dụng.

Một trường hợp đáng chú ý là quá trình phát triển công nghiệp công nghệ cao của Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel). Hiện nay, Viettel đã nghiên cứu, phát triển hệ sinh thái sản phẩm mạng viễn thông Make in Vietnam, đồng thời cung cấp hàng nghìn sản phẩm cho Bộ Quốc phòng, góp phần hiện đại hóa quân đội và phát triển công nghiệp quốc phòng công nghệ cao.

Tại Triển lãm Công nghiệp quốc phòng và Hàng không vũ trụ quốc tế SAHA 2026 ở Thổ Nhĩ Kỳ, Viettel High Tech đã giới thiệu 73 sản phẩm thuộc tám lĩnh vực, bao gồm radar, tác chiến điện tử, thiết bị bay không người lái, quang điện tử, thông tin quân sự, hệ thống chỉ huy - điều khiển, mô hình mô phỏng và mạng riêng 5G.

Những kết quả được công bố cho thấy một hướng phát triển đáng chú ý: từ nghiên cứu và sản xuất những sản phẩm riêng lẻ đến hình thành hệ thống năng lực công nghệ trên nhiều lĩnh vực có khả năng bổ trợ cho nhau.

Để phát triển các sản phẩm radar, thông tin liên lạc, thiết bị bay không người lái hay hệ thống điều khiển, cần có những năng lực chung về điện tử, viễn thông, phần mềm, xử lý dữ liệu, thiết kế và chế tạo. Khi những năng lực ấy được tích lũy, doanh nghiệp có thêm điều kiện phát triển những thế hệ sản phẩm tiếp theo, mở rộng phạm vi nghiên cứu và tham gia sâu hơn vào các hoạt động hợp tác công nghệ. Đây là điểm đáng quan tâm khi nhìn nhận trường hợp Viettel từ góc độ hệ sinh thái.

Một hướng tiếp cận khác đang được triển khai trong lĩnh vực công nghiệp an ninh là kết nối trực tiếp nhu cầu công nghệ của lực lượng Công an với mạng lưới nghiên cứu và đổi mới sáng tạo quốc gia. Ngày 01/6/2026, Cục Công nghiệp an ninh (Bộ Công an) và Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã ký kết Chương trình hợp tác chiến lược về phát triển.

Chương trình mở đường cho cách tiếp cận từ nhu cầu thực tiễn để tổ chức hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ. Những yêu cầu, đề xuất từ địa phương, cơ sở sẽ được tiếp nhận để xác định công nghệ ưu tiên; kết nối mạng lưới chuyên gia, viện nghiên cứu, doanh nghiệp sản xuất và đối tác đầu tư; đồng thời nghiên cứu hình thành mô hình trung tâm đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ lưỡng dụng và công nghiệp an ninh. Chương trình cũng đặt ra yêu cầu từng bước hoàn thiện cơ chế thử nghiệm, sở hữu trí tuệ, thương mại hóa và tái đầu tư cho nghiên cứu từ kết quả thương mại hóa sản phẩm.

Từ góc độ kiến tạo hệ sinh thái, mô hình hợp tác này cho thấy một hướng tổ chức đáng quan tâm: cơ quan thực hiện nhiệm vụ an ninh xác định nhu cầu và yêu cầu ứng dụng; các cơ sở khoa học, doanh nghiệp và đối tác công nghệ tham gia giải quyết những bài toán phù hợp với năng lực; kết quả nghiên cứu được định hướng phát triển thành sản phẩm có khả năng phục vụ nhiệm vụ an ninh và những nhu cầu kinh tế - xã hội tương ứng.

Thực tiễn các mô hình trên là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu việc kiến tạo hệ sinh thái lưỡng dụng ở quy mô rộng hơn, trong đó công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh và công nghiệp dân sự có thể phát huy những năng lực bổ sung cho nhau theo chức năng, nhiệm vụ và điều kiện pháp lý tương ứng.

Lãnh đạo Cục Công nghiệp an ninh và Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia ký kết thỏa thuận phát triển công nghiệp an ninh hồi đầu tháng 6/2026

Lãnh đạo Cục Công nghiệp an ninh và Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia ký kết thỏa thuận phát triển công nghiệp an ninh hồi đầu tháng 6/2026

Từ tiềm lực bảo vệ Tổ quốc đến sức mạnh phát triển quốc gia

Những mô hình thực tiễn cho thấy, giá trị của quốc phòng, an ninh lưỡng dụng không chỉ được tạo ra từ một công trình hạ tầng, một sản phẩm công nghệ hay một chương trình hợp tác cụ thể. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng kết nối các nguồn lực, phát huy những năng lực sẵn có và hình thành những năng lực mới, qua đó tạo ra sự bổ trợ giữa nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, để những khả năng ấy trở thành sức mạnh phát triển ở quy mô quốc gia, không thể chỉ dựa vào sự chủ động của một số doanh nghiệp hoặc những chương trình hợp tác riêng lẻ. Điều cần thiết là kiến tạo một hệ sinh thái lưỡng dụng có khả năng kết nối các chủ thể, tổ chức quá trình nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng công nghệ trong một cơ chế vận hành phù hợp với yêu cầu quốc phòng, an ninh và mục tiêu phát triển đất nước.

Trước hết, hệ sinh thái ấy phải được hình thành trên cơ sở kết nối nhu cầu thực tiễn với năng lực nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng công nghệ. Trong nhiều trường hợp, nhu cầu công nghệ của các cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh có thể được đáp ứng từ năng lực nghiên cứu của các viện, trường hoặc doanh nghiệp dân sự. Ngược lại, những thành tựu khoa học, công nghệ được hình thành trong quá trình thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh cũng có thể mở ra khả năng ứng dụng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội.

Vấn đề đặt ra là cần có cơ chế để những nhu cầu và năng lực ấy tìm đến nhau. Khi yêu cầu công nghệ được xác định rõ, hoạt động nghiên cứu có thêm cơ sở lựa chọn hướng phát triển; khi kết quả nghiên cứu gắn với khả năng ứng dụng, doanh nghiệp có thêm động lực đầu tư hoàn thiện sản phẩm; khi sản phẩm được đưa vào sử dụng, những yêu cầu mới tiếp tục trở thành đầu vào cho quá trình nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Những yêu cầu trên sẽ hình thành một chu trình phát triển liên tục, thay vì chỉ tạo ra những kết quả riêng lẻ trong từng nhiệm vụ.

Cần phát triển mạng lưới nghiên cứu, thử nghiệm và sản xuất có khả năng huy động sự tham gia của nhiều chủ thể. Trong đó, các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh làm nòng cốt phát huy vai trò theo chức năng, nhiệm vụ được giao; các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ và doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tham gia những công đoạn phù hợp với năng lực và điều kiện pháp lý.

Chú trọng phát triển những năng lực công nghệ nền tảng có khả năng phục vụ nhiều nhiệm vụ khác nhau. Năng lực làm chủ công nghệ cảm biến, sản xuất linh kiện điện tử chính xác, phát triển phần mềm hay bảo đảm an toàn hệ thống có thể trở thành cơ sở để hình thành nhiều dòng sản phẩm, phục vụ những yêu cầu khác nhau của quốc phòng, an ninh và đời sống kinh tế - xã hội.

Một yêu cầu không thể tách rời là hoàn thiện cơ chế chuyển giao, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ phù hợp với đặc thù quốc phòng, an ninh. Lưỡng dụng không đồng nghĩa với việc mọi kết quả nghiên cứu, sản phẩm hoặc dữ liệu đều có thể được chuyển giao và khai thác cho mục đích dân sự. Những yêu cầu về bảo vệ bí mật nhà nước, an toàn, an ninh và kiểm soát công nghệ phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật. Đồng thời, đối với những kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng rộng rãi, cần có cơ chế phù hợp về sở hữu trí tuệ, phân chia lợi ích và tái đầu tư để tiếp tục phát triển sản phẩm.

Yếu tố quyết định sức sống lâu dài của hệ sinh thái chính là con người và năng lực tự chủ công nghệ. Công nghệ có thể được mua sắm, thiết bị có thể được nhập khẩu, nhưng khả năng nghiên cứu, thiết kế, cải tiến và phát triển sản phẩm đòi hỏi quá trình tích lũy tri thức, kinh nghiệm và nguồn nhân lực lâu dài. Bởi vậy, phát triển quốc phòng, an ninh lưỡng dụng cần gắn chặt hơn nữa giữa đào tạo, nghiên cứu và sản xuất, tạo điều kiện để các cơ sở khoa học, doanh nghiệp và cơ quan thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh cùng tham gia giải quyết những bài toán công nghệ từ thực tiễn. Nhìn từ góc độ ấy, kiến tạo hệ sinh thái lưỡng dụng chính là quá trình chuyển hóa những nguồn lực riêng lẻ thành năng lực tổng hợp, chuyển những kết quả nghiên cứu thành sức mạnh công nghệ, công nghiệp và tổ chức sản xuất, đồng thời tạo ra sự gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa tiềm lực bảo vệ Tổ quốc với nền tảng phát triển đất nước.

Một quốc gia có nền công nghiệp phát triển, năng lực công nghệ tự chủ và nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ có thêm điều kiện để củng cố quốc phòng, an ninh. Ngược lại, quá trình xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh có thể góp phần hình thành những năng lực công nghiệp, công nghệ và tổ chức có giá trị lâu dài đối với nền kinh tế.

Từ nhận thức chiến lược về giá trị kép của quốc phòng, an ninh đến đổi mới phương thức đầu tư, sử dụng nguồn lực và kiến tạo hệ sinh thái lưỡng dụng, đó là quá trình chuyển hóa tiềm năng thành năng lực phát triển thực chất. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không chỉ được thể hiện ở khả năng ứng phó với những nguy cơ, thách thức, mà còn gắn với năng lực làm chủ công nghệ, tổ chức sản xuất, huy động nguồn lực và bảo đảm những điều kiện phát triển bền vững của đất nước.

Từ tiềm lực bảo vệ Tổ quốc đến sức mạnh phát triển quốc gia, tư duy lưỡng dụng mở ra một cách tiếp cận trong việc kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: không chỉ huy động nguồn lực phát triển để củng cố quốc phòng, an ninh, mà còn biến những năng lực được hình thành trong quá trình xây dựng quốc phòng, an ninh thành nguồn lực phục vụ phát triển đất nước. Đó cũng là yêu cầu đặt ra trong hành trình xây dựng một nước Việt Nam phát triển, tự chủ, tự cường trong kỷ nguyên mới.

Thiếu tá, ThS Hoàng Duy Quân – Công an thành phố Bắc Ninh

Nguồn ANTĐ: https://anninhthudo.vn/ky-3-kien-tao-he-sinh-thai-luong-dung-bien-tiem-luc-bao-ve-to-quoc-thanh-suc-manh-phat-trien-quoc-gia-post670311.antd