Kỳ 4: Đấu trí qua điện đài
Sau khi khuất phục được toán Castor và Phạm Chuyên, Ban Chuyên án quyết định triển khai 'trò chơi nghiệp vụ' khi cho Phạm Chuyên và Lò Văn Piếng lên máy liên lạc vào Nam, một cuộc chiến qua sóng điện đài chính thức bắt đầu.
Cuộc chiến mật giữa núi rừng Tây Bắc
12 giờ 30 phút trưa ngày 9/6/1961, hai tuần sau khi Castor nhảy dù xuống Sơn La, tại một ngọn đồi ở Phù Yên, dưới sự giám sát của các cán bộ an ninh, Lò Văn Piếng, điện báo viên toán Castor lên máy liên lạc về trung tâm. Nội dung bức điện là Castor đã an toàn, ổn định chỗ ở, hiện đang triển khai công việc theo kế hoạch. Do địa bàn rừng núi hiểm trở nên mất thời gian di chuyển và tìm nơi trú ẩn an toàn nên chậm đánh điện báo cáo. Để triển khai công việc, Castor xin trung tâm tiếp tế. Sau vài lần thẩm tra an ninh, trung tâm đồng ý tiếp tế đồng thời yêu cầu Castor tìm bãi thả hàng.
Vài ngày sau, Castor báo cáo tọa độ bãi thả hàng, trung tâm trả lời đêm 1/7/1961 sẽ thả hàng. Nhưng suốt đêm 1/7 tới sáng hôm sau vẫn không thấy có chiếc máy bay nào. Hóa ra, tối 1/7, chiếc máy bay này bị bộ đội phòng không bắn rơi khi bay tới địa phận Ninh Bình.
Sau vụ chiếc C47 bị rơi ở Ninh Bình, trung tâm nghi ngờ Castor bị lộ. Vì vậy, ròng rã 8 tháng sau đó không tiếp tế nhưng liên tục dùng các biện pháp để kiểm tra an ninh.
Ngày đó, để đảm bảo bí mật chuyên án, Bộ thành lập Tổ chống gián điệp biệt kích (gọi tắt là K) hoạt động độc lập trong rừng núi, xa bản làng, dưới danh nghĩa một đoàn khảo sát. Một “K” chống gián điệp biệt kích thường gồm một đồng chí phụ trách chung gọi là Trưởng K, một cán bộ cơ yếu, một báo vụ, một người phụ trách quay máy, một điện báo viên của toán biệt kích và một tiểu đội Công an vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ. Để cung cấp tin giả cho địch, các bản tin sau khi được hai đồng chí Hạc, Thanh soạn sẽ báo cáo để Cục trưởng Nguyễn Tài duyệt lần cuối, sau đó sẽ cho Lò Văn Piếng lên máy phát về trung tâm. Khi phát điện, người kiểm tra trực tiếp là cán bộ nghiệp vụ vô tuyến điện, ngoài ra còn có trung tâm kiểm thính của Bộ kiểm tra gián tiếp nên đảm bảo an toàn tuyệt đối.

Điện báo viên toán Castor liên lạc về Trung tâm chỉ huy tại Sài Gòn dưới sự giám sát của trinh sát Chuyên án PY 27
Đại tá Hồ Can (nguyên Trưởng phòng Thông tin hữu tuyến, Cục Thông tin liên lạc, Bộ Công an), người tham gia chuyên án từ những ngày đầu kể rằng, trung tâm chỉ huy nghĩ ra đủ trò để kiểm tra Castor, yêu cầu báo cáo nhiều loại tin tức, vì thế “K” phải di chuyển liên tục trên địa bàn rừng núi hiểm trở gần 80km. Có lần khi vừa lên máy liên lạc, trung tâm bất ngờ hỏi khẩu lệnh an ninh phụ của toán Castor. Do cán bộ hỏi cung ban đầu không bàn giao nên không ai biết. Vậy là vừa phải câu giờ với trung tâm, ông Can liên lạc với cán bộ trại giam hỏi cung Đinh Văn Anh về khẩu lệnh an ninh phụ. Hóa ra khẩu lệnh chỉ là một câu rất “tào lao” rằng: "Đôi giày của tôi có hai màu khác nhau", nhưng nếu trả lời sai thì đổ bể cả chuyên án.
Lần cuối cùng thử thách, trung tâm yêu cầu Castor phải phá cầu Tà Vài trên Quốc lộ 6. Đây là tình huống cân não với Ban Chuyên án bởi cầu Tà Vài ở vị trí xung yếu, nếu phá cầu thì giao thông trên Quốc lộ 6 tê liệt nhưng không đánh thì sẽ bị lộ. Cuối cùng Ban Chuyên án quyết định gây tiếng nổ ở cầu Tà Vài. Sau khi kiểm tra kết quả, trung tâm thông báo thưởng Castor "anh dũng bội tinh" hạng nhất và thưởng cho mỗi thành viên 40.000 đồng.
Cuối tháng 4/1962, trung tâm lệnh cho Castor di chuyển từ sông Đà về địa phận Mộc Châu, Sơn La để nhận 6 thùng hàng tiếp tế và một toán tăng cường 7 lính biệt kích có biệt danh Tourbillon.
Theo quy ước, khi cần tiếp tế Castor phải có điện xin. Trong điện phải cho biết bãi thả ở tọa độ nào, rộng bao nhiêu, ở gần làng hay núi; bãi thả là thung lũng, bãi đất bằng hay sườn núi để phi công tìm trong bản đồ và tìm cách thả dù chính xác. Chọn bãi thả phải là nơi xa bản làng, cách nơi toán trú ẩn ít nhất 8-10km; lấy sông, suối to, hoặc quả núi, làng bản để làm mốc cho phi công dễ tìm; phải ước tính xem bãi thả cách quả núi, con sông hay làng bản đó bao xa. Nếu là bản làng có trong bản đồ thì chỉ cần nói tên bản làng đó phi công sẽ biết. Phải là bãi cỏ gianh hoặc đất mềm, tránh những nơi có cây cối hoặc bãi đá vì sẽ làm hư hỏng thiết bị, máy móc.
Bãi càng rộng càng tốt, nhưng tối thiểu phải có chiều ngang 100m, dài 200m. Với bãi có chiều ngang hơn 200m thì không cần chọn hướng gió; nhưng với những bãi có chiều ngang ngắn hơn 200m thì phải chọn bãi và gió thổi theo chiều ngang bãi để thuận lợi cho việc thả dù hàng. Với bãi thả dù người thì phải là bãi cỏ gianh, đất mềm và tránh nơi có nhiều cây cao từ 20m trở lên, vì ngay cả với những cây cao 5-10m cũng rất khó xuống. Phải chọn được ít nhất 3 bãi thả khác nhau, để đề phòng khi bãi thứ nhất không đảm bảo an ninh thì sẽ chuyển sang bãi thứ 2. Castor phải báo cáo chi tiết về kích thước, tọa độ và mốc đánh dấu của từng bãi và vị trí thứ tự các bãi để khi máy bay thả hàng, nếu bãi thứ nhất không đảm bảo an ninh và Castor không kịp điện báo trung tâm thì mặc định là phi công sẽ thả xuống bãi thứ hai theo thứ tự.
Ngoài ra còn có một quy ước an ninh sử dụng trong trường hợp khẩn cấp máy bay đến gần bãi thả mà không đảm bảo an ninh mà radiophone bị hỏng không gọi cho phi công được thì người dưới đất cầm bó đuốc quay liên tục để phi công biết không an toàn và không thả hàng; hoặc nếu bị công an, bộ đội bắt, khống chế gọi máy bay thả hàng thì phải giả vờ khai cầm đuốc quay như thế để báo cho phi công biết chỗ để thả. Khi nhìn thấy ám hiệu này, phi công sẽ biết đó ám hiệu báo động.
Khi nhận được tất cả những thông tin đó của Castor, trung tâm sẽ ấn định ngày, giờ máy bay tới thả đồng thời cung cấp mật khẩu liên lạc giữa phi công và toán. Về ngày giờ, sẽ báo trước 24 giờ, nhưng nếu thời tiết xấu, máy bay không ra được sẽ báo cho biết trước. Về mật khẩu liên lạc giữa phi công và Castor thì ấn định phi công sẽ là "Lam Sơn", còn Castor sẽ là "Hà Nội". Nếu có an ninh thì bên dưới trả lời cho phi công là "Nội Hà”; nếu không có an ninh thì trả lời là "Hà Nội"; ngay cả trong trường hợp thay mật khẩu thì bên dưới cũng phải luôn nhớ quy tắc nếu có an ninh thì nói ngược, không có an ninh thì nói xuôi như vậy.
***
Sau khi nhận được thông báo tiếp tế kèm theo những yêu cầu của trung tâm, từ Phù Yên, cả K chống gián điệp hành quân gần 100km về Mộc Châu. Sau nhiều ngày tìm kiếm, cuối cùng mới chọn được bãi thả hàng tại điểm cao 1000, bản Săm Kha, xã Tân Lập, huyện Mộc Châu. Nhận báo cáo của Castor, trung tâm cho biết sẽ thả toán Tourbillon và hàng tiếp tế vào đêm 16 rạng ngày 17/5/1962.
Theo kịch bản được huấn luyện, ở giữa bãi thả hàng, Castor cắm hỏa châu báo hiệu thành hình chữ "L"; khoảng cách mỗi cây hỏa châu là 20 bước chân, trong đó thân chữ "L" cắm 4 cây, đuôi chữ "L" cắm 3 cây; hỏa châu sẽ đốt trước giờ "G" 10 phút. Máy chỉ hướng cho phi công tìm bãi được đặt cách bãi 50m để tránh hàng hóa thả xuống rơi vào máy gây hư hỏng; trước giờ "G" 15 phút, máy bắt đầu hoạt động.
Để máy hoạt động liên tục phải có 2 người, một người quay máy phát điện, một người gõ manip. Khi gõ manip được 2- 3 nhịp thì trở lại phụ quay máy phát điện, khi đó phải dùng một hòn đá đặt lên cần gõ manip để máy phát tín hiệu dài cho phi công tìm được tín hiệu. Quay đủ 30 vòng máy phát điện thì trả lại gõ tiếp. Làm liên tục cho đến khi máy bay đến đúng bãi thả.
10 phút trước giờ hẹn thả hàng, Castor bật máy radiophone để liên lạc trực tiếp với phi công. Khi liên lạc phải nói nhanh, bên dưới nói trước chứ không được chờ phi công gọi vì máy bay sẽ bay rất nhanh. Castor liên lạc trước với phi công và nói mật khẩu. Trong trường hợp đang chuẩn bị đón hàng mà bị lộ thì Castor phải lập tức tắt hỏa châu, thu dọn máy móc di chuyển, sau đó báo cáo sau. Khi không thấy hỏa châu, phi công sẽ không thả hàng.
Đêm 16/5/1962, sau khi hỏa châu được đốt lên, máy radiophone được bật và liên lạc với phi công. Sau khi kiểm tra và xác nhận đúng mật khẩu, phi công bay đến ngang bãi thả, ngay đầu chữ "L" đánh dấu là thả hàng; 6 thùng hàng lần lượt được đẩy xuống, tiếp đó là 7 dù người rời máy bay.
Vừa đặt chân xuống miền Bắc, toán Tourbillon bị bắt gọn. Vài ngày sau, điện báo viên của toán Tourbillon là Vàng A Giọng đồng ý hợp tác với Ban Chuyên án, khai toàn bộ mật mã và mật khẩu an ninh. Đặc biệt, Giọng khai cả ám hiệu cá nhân được trung tâm giao trước khi ra Bắc, đó là nhóm 5 số đặc biệt và được hướng dẫn để vào trong nhóm thứ 3 các bức điện gửi về trung tâm. Khi liên lạc qua điện đài, ám hiệu này giúp trung tâm chỉ huy biết Giọng là người liên lạc qua điện đài chứ không phải người khác. Từ kết quả khai thác toán Tourbillon, Ban Chuyên án báo cáo Bộ xin lập thêm chuyên án mới mang bí số KS16.

Vũ khí và thiết bị thông tin CIA trang bị cho các toán gián điệp biệt kích trưng bày trong Bảo tàng CAND
2 tuần sau khi ra Bắc, Vàng A Giọng lên máy liên lạc về trung tâm báo cáo đã xuống an toàn và gặp được Castor. Và suốt 2 năm sau đó, khi đến giờ liên lạc, Giọng lại báo cáo cho trung tâm những bản tin do các cán bộ an ninh soạn sẵn.
Hơn 1 năm sau, tin tưởng những chiến tích mà Tourbillon và Castor báo cáo về, trung tâm thông báo sẽ tăng cường thêm một toán nữa và lần này sẽ có cả lính biệt kích Mỹ.
Đêm 4/7/1963, từ Sài Gòn, trung tâm điều một chiếc C54 chở 11 lính biệt kích, trong đó có 4 biệt kích Mỹ và hàng hóa ra Bắc. Nhưng, khi đến địa phận huyện Văn Bàn, Yên Bái thì gã phi công đâm vào núi đá. Chiếc C54 vỡ tan tành cùng toàn bộ phi hành đoàn và toán biệt kích…
Ares tái xuất và “bỏ bùa” CIA
Trong khi Chuyên án PY 27 được triển khai tại Tây Bắc và bước đầu thắng lợi thì tại Công an Hồng Quảng, các cán bộ trong Chuyên án BK63 cũng chuẩn bị phiên liên lạc đầu tiên cho Phạm Chuyên, tức điệp viên Ares.
Theo quy ước từ trước khi ra Bắc, Ares sẽ gọi trung tâm chỉ huy tại Sài Gòn là “Tổng bộ”. Sáng 8/8/1961, ở một bãi hoang thuộc xã Trạp Khê (huyện Yên Hưng, Quảng Ninh), điệp viên Ares lên đài liên lạc lần thứ 8 với “Tổng bộ”, nhưng khác 7 lần trước, lần này bên cạnh Ares là các cán bộ Cục Bảo vệ Chính trị và Công an Hồng Quảng. Bức điện của Ares có nội dung báo cáo tình hình tạm ổn, có thể liên lạc lại được, nhưng để đảm bảo an toàn thì khoảng cách giữa hai phiên phải thưa hơn, không như lịch truyền tin đã thỏa thuận trước đó. Ở đầu Sài Gòn, sau khi kiểm tra an ninh, “Tổng bộ” đã chúc mừng Ares thoát hiểm và nhắc nhở chú ý đảm bảo an toàn.
Để chuẩn bị cho phiên liên lạc này, nhiều ngày trước đó, các cán bộ trong Ban Chuyên án BK63 đã họp bàn kỹ lưỡng, đưa ra nhiều tình huống để có phương án xử lý.

Kế hoạch xây dựng bản tin của trinh sát chuẩn bị cho Phạm Chuyên phát về trung tâm chỉ huy tại Sài Gòn
Theo lời khai của Phạm Chuyên, trước khi kết thúc khóa huấn luyện truyền tin, tên Tý, người hướng dẫn Chuyên về kỹ thuật phát tin đã mang máy ghi âm đến để ghi tín hiệu với mục đích cho central gián điệp nghe quen, đề phòng trường hợp khi Chuyên ra Bắc bị bắt, Công an Bắc Việt lấy được thiết bị và các quy ước liên lạc sẽ đánh tráo manip. Tý còn huấn luyện Chuyên biết cách hội thoại trong lề lối thông báo giúp cho nhân viên điện báo ở “Tổng bộ” khi nhận điện nghe sẽ biết ngay điệp viên đang bị khống chế, bằng cách đài chính bắt nhắc lại một nhóm nào đó trong lúc đài đối đang chuyển điện, nếu có an ninh: nhắc lại tự do không theo quy luật nào.
Ngoài các biện pháp kỹ thuật là thêm những ký tự đã quy ước sẵn khi gõ manip để báo cho “Tổng bộ” biết đang bị khống chế, trong quá trình hỏi đáp, “Tổng bộ” sẽ có những câu hỏi để thẩm tra xem đang trao đổi với điệp viên hay một đối tượng giả, hoặc điệp viên đang bị khống chế. Ví dụ “Tổng bộ” hỏi “Địa điểm tiếp tế bằng phi cơ ở đâu?”, nếu đang bị khống chế, điệp viên trả lời “Cát Bà” hoặc một điểm vu vơ nào đó; nếu không bị khống chế, trả lời “Chưa tìm được”…
Tuy nhiên, việc Ares “bặt vô âm tín” gần 2 tháng vẫn khiến “Tổng bộ” nghi ngờ nên ngay trong phiên liên lạc sau đó đã thẩm tra an ninh, hỏi tình trạng máy truyền tin, nơi cất giấu. Các trinh sát soạn bản tin cho Ares báo cáo về hai nơi chôn cất máy, có tọa độ, mốc đánh dấu bằng các cây rừng, kèm theo việc này là một số tin tức hoạt động quân sự, kinh tế được tổng hợp từ các báo.
Tháng 10/1961, “Tổng bộ” tin rằng Ares đang hoạt động hiệu quả khi các phiên liên lạc, Ares cũng cung cấp rất nhiều tin về các hoạt động kinh tế rất chính xác. Lúc này, với lý do cần có kinh phí và phương tiện để hoạt động, Ares đề nghị được tiếp tế sớm.
“Tổng bộ” yêu cầu Ares tìm địa điểm đón hàng rồi báo cáo cùng quy ước an ninh và ám hiệu nhận hàng. Ban Chuyên án chọn nơi nhận hàng là khu Đầu Đá, một điểm trong Vịnh Hạ Long.
Ngày 16/1/1962, con tàu từng đưa Phạm Chuyên ra Bắc và 10 thủy thủ từ Đà Nẵng mang theo 30 thùng hàng gồm máy truyền tin, vàng, tiền miền Bắc (tiền thật) lương thực, thực phẩm, vũ khí ra tiếp tế. Sau khi toàn bộ hàng hóa đã tập kết lên bãi, toàn bộ thủy thủ bị bắt gọn.
Nhưng trong bản tin tiếp theo, Ares thông báo không nhận được hàng, vì có thể đúng hôm chiếc tàu chở hàng ra tiếp tế đã bị giông lốc đánh chìm và đề nghị tiếp tục chuyển đồ tiếp tế ra. Cùng với đề nghị tiếp tế, Ares vẫn đều đặn cung cấp tin tức do các trinh sát tổng hợp hoặc sáng tác ra.
Hơn một tháng sau chuyến hàng đầu tiên, Ares nhận được thông báo “Tổng bộ” đã chuyển hàng ra và chỉ tọa độ cất giấu. Lần này là 23 kiện lương thực, thuốc và 7 thùng vũ khí.
Tới tháng 8/1963, “Tổng bộ” tiếp tế cho Ares 3 lần bằng đường biển. Tuy nhiên, lần này khi tàu vừa quay ra thì bị công an vũ trang phát hiện, bắt giữ. Với lý do việc tiếp tế bằng đường biển đã bị lộ, Ares đề nghị chuyển sang tiếp tế bằng đường không. Đề xuất này lập tức được chấp nhận vì tiếp tế bằng đường không sẽ được nhiều và nhanh hơn, lại ít nguy hiểm.
Sau khi đi tìm địa điểm, Ban Chuyên án chọn điểm nhận hàng là Khe Ru (huyện Hoành Bồ), đây là một bãi cỏ trên đỉnh núi, xa dân, hướng bay từ đông bắc sang rồi thẳng ra biển, máy bay thả dù rất an toàn. Tín hiệu quy ước địa điểm nhận hàng là 3 cột khói hình tam giác ở giữa bãi.
Trước ngày hẹn, một tổ công an vũ trang cùng tổ công tác gồm 3 trinh sát và Phạm Chuyên dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó giám đốc Công an khu Hồng Quảng Lê Mai, lên bãi thả chuẩn bị. Đúng ngày hẹn, giữa bãi thả, 3 đống cỏ khô được chất lên, trên cùng phủ lá tươi để tạo khói. Gần 17h chiều mới nghe thấy tiếng máy bay, lập tức 3 đống cỏ khô được châm lửa. Khi 3 cột khói bốc lên cũng là lúc chiếc máy bay bay qua, thả xuống hai dù hàng…
***
Năm 2015, trong câu chuyện với phóng viên ANTG cuối tháng, Thiếu tướng Lê Mai (1927 - 2017), nguyên Giám đốc Công an tỉnh Quảng Ninh, nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát kể rằng, để đảm bảo bí mật chuyên án, trong suốt nhiều năm, tổ chuyên án toàn sống trong hang hoặc lán trại ở những khu rừng núi biệt lập. Ban đầu, tổ đóng ở Bãi Cháy. Nhưng khi máy bay Mỹ liên tục ném bom miền Bắc, nhất là Hải Phòng, Quảng Ninh thì lại phải thay đổi. Ngày ấy, phương tiện di chuyển thiếu thốn, trong khi mỗi lần liên lạc bằng điện đài lại phải cần có ôtô để chở máy. Vậy là tổ công tác chuyển về Hà Lầm để đỡ phải đi lại. Nhưng về Hà Lầm chưa được bao lâu thì khu vực này bị ném bom nên lại chuyển vào sống ở một hang núi ở Quang Hanh. Ở Quang Hanh, mỗi lần liên lạc lại phải dùng xe ôtô chạy lên Uông Bí để thay đổi tọa độ liên lạc bởi trung tâm địch cũng kiểm tra tọa độ mỗi lần liên lạc.

Đồng chí Trưởng Công an xã Phiềng Ban, huyện Bắc Yên, tỉnh Nghĩa Lộ (nay là Lào Cai) trao đổi với công an viên về kế hoạch bảo vệ trị an, phòng chống gián điệp biệt kích, năm 1972. Ảnh tư liệu Bảo tàng CAND
Với các cán bộ trong Chuyên án BK63, việc đau đầu nữa là phải nghĩ để… sáng tác các bản tin cho Ares báo cáo; bởi cứ 10 - 20 ngày phải có một bản tin để báo cáo về Sài Gòn. Ngày đó, quy trình sản xuất bản tin là các trinh sát soạn ra cho Thiếu tướng Lê Mai duyệt trước, sau đó ông lại trình Cục trưởng Nguyễn Tài duyệt lần cuối rồi chuyển lại cho Ares phát vào Nam. Nội dung tin về kinh tế thì tập hợp từ các báo và thực tế đời sống mà ai cũng biết, nhưng tin tức về quốc phòng, an ninh thì phải tính toán. Có lần trung tâm yêu cầu xác định tọa độ các cây cầu trên Quốc lộ 18 cần đánh sập. Sau khi kiểm tra thực địa toàn tuyến, Ban Chuyên án quyết định cung cấp tọa độ những cây cầu đã hỏng để lập báo cáo. Sau khi địch ném bom, Ares lại có báo cáo kết quả rất chính xác rằng cầu đã hư hỏng nặng. Vì vậy mà uy tín của Ares ngày càng tăng.
***
Sau này, trong hồi ký của mình, nhắc lại những ngày tham gia Chuyên án BK63, ông Phạm Chuyên kể rằng:
“Nhận thấy đã lấy lại lòng tin của “Tổng bộ”, trong các phiên liên lạc sau, tôi thường nhắc đến việc tiếp tế không chỉ cần lương thực, thực phẩm, tiền mặt... mà cần có phương tiện mở rộng hoạt động như bạc đồng (bạc thời Pháp thuộc cũ), vàng (vàng đồ), máy truyền tin nhỏ, nhẹ, có thể mình tôi có thể làm phiên việc được, để hạn chế việc đi lại của người quay Ragono, vũ khí, thuốc nổ, máy ảnh, ống nhòm...
Tất cả đều được chấp nhận nhưng cần có thời gian để chuẩn bị. Việc liên lạc từ đây được thực hiện đều đặn, tin tức báo cáo mỗi ngày một nhiều và “quan trọng” hơn, cả những khó khăn về đời sống của nhân dân, là những điều hiển nhiên ai cũng biết.
Và rồi vài tháng sau, tôi được tin báo chuẩn bị đón nhận tiếp tế ở bãi thả Khe Ru cũ. Ngày giờ cụ thể sẽ báo sau. Cuối cùng ngày chính thức chỉ được báo trước ba ngày. Ba ngày cũng thừa thì giờ để chuẩn bị. Tổ công tác của chúng tôi gồm 7 người cùng một tiểu đội Công an vũ trang lên bãi thả trước một ngày. Lán trại được dựng trong rừng cây. Ban ngày, ở trong rừng, đề phòng máy bay trinh sát lướt qua, chụp ảnh, phát hiện dấu hiệu nghi ngờ. Tối đến chúng tôi đốt đuốc xuống suối soi bắt tôm càng, đơm lờ cá bống suối để cải thiện bữa ăn.
Sáng sớm ngày hẹn, một máy bay lướt qua bãi thả. May mà lúc ấy không có ai ngoài bãi. Cũng như lần trước, ai cũng biết đấy là máy bay trinh sát đi quan sát thực địa, nên “bình chân như vại”. Phiên liên lạc một chiều trước đây đã được báo trước là hồi 17 giờ. Ba đống cỏ tạo khói đã được chuẩn bị xong từ ngày hôm trước, chỉ chờ lệnh nổi lửa. Gió nổi mạnh. Mọi người sơ tán vào bìa rừng phía Tây Tây Nam và Nam để phòng gió lớn, dù bị gió tạt đi, và rừng sâu, mất nhiều thì giờ tìm kiếm, thu nhặt.
15 giờ 55 có tiếng máy bay. Hai người giúp tôi đốt lửa ra bãi. Ba cột khói bốc cao, máy bay vừa tới. Ba cái dù lớn được thả xuống, nhưng vì gió mạnh, dù tạt vào rừng sâu ở phía Tây và Tây Nam bãi thả. Phải vài ba giờ sau mới thu gom được hết. Số lượng hòm đồ nhiều. Việc vận chuyển khá vất vả, nhưng vui hơn vì thắng lợi lớn.
Mọi yêu cầu được đáp ứng đầy đủ. Có tiền mặt, vàng đồ, bạc hoa xòe, có thuốc nổ, vũ khí (súng giảm thanh), ống nhòm, máy ảnh, máy thu thanh loại nhỏ, mới nhất... Đặc biệt, có máy truyền tin loại nhỏ và mới nhất, vừa có thể thu, phát, vừa đàm thoại... vận hành bằng một ắc quy khô to bằng bao thuốc lá, có máy phát điện bằng một ca uống nước để sạc ắc quy khô khi hết điện. Từ máy này, tôi có thể một mình làm phiên liên lạc hai chiều, không cần người quay Ragono. Thực phẩm gồm có đường, sữa, lạp xường, xúc xích, thịt muối và thuốc bổ... Tất cả trên 30 hòm.
Vì quá giờ làm liên lạc hai chiều, nên ngày hôm sau tôi mới báo nhận và xin rút khỏi bãi thả. Tôi đề nghị dùng máy truyền tin mới nhận làm vài buổi liên lạc hai chiều để “thử nghiệm” máy móc rồi “cất giấu”, đề phòng khi máy cũ bị trục trặc. Từ đây, tiếp tế được đầy đủ, đều đặn, có phương tiện để hoạt động thời gian dài... Tin tức cũng được báo cáo đều đặn (…).
Liên lạc được thực hiện đều đặn. Tôi báo cáo đã phát triển được thêm 3 cộng sự, đặt bí danh là HL4 - HL5 - HL6. Tin tức quân sự được cung cấp nhiều hơn - tất nhiên - tin tức càng quan trọng càng là tin “bịa đặt”, tin kinh tế thì nhặt trên báo chí “xào xáo” lại chút ít. Ấy thế mà không hiểu “thượng cấp” của tôi “dốt” đến mức độ không đánh giá được giá trị đích thực của nguồn tin, hay họ cố ý nói dối cấp trên để lấy “thành tích” mà ít lâu sau tôi được thông báo là “thượng cấp” tặng thưởng cho tôi “Anh dũng bội tinh". Tôi điện về “tri ân” thượng cấp và hứa hết lòng phục vụ”.
(còn nữa)
Nguồn CAND: https://cand.vn/ky-4-dau-tri-qua-dien-dai-post817693.html











