Kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo đang đến rất gần

Tác giả:

GS.TS Phạm Tất Dong

08/08/2026 14:00

Câu trả lời chính xác và ngắn gọn: "Kỷ nguyên Trí tuệ nhân tạo" (AI Era) sẽ là sự nối tiếp kỷ nguyên số. Để sống trong kỷ nguyên AI, việc làm đầu tiên và với sự cố gắng tăng tốc liên tục trong học tập suốt đời là nhiệm vụ, là trách nhiệm và là nghĩa vụ công dân. 

Học tập suốt đời nếu muốn rằng, trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, mỗi người sẽ là những công dân học tập, có đủ năng lực cốt lõi và những kỹ năng cơ bản, những phẩm chất cần thiết để sống trong một xã hội mà AI có mặt trong tất cả những lĩnh vực.

Open AI - một tổ chức nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo của Mỹ là cha đẻ của các công nghệ AI đột phá toàn cầu đã khuyến cáo rằng, sự tiến hóa của các loại hình AI đã đạt tới gia tốc chóng mặt. 

Hiện nay, trong kỷ nguyên số, trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative AI) đang hiện hữu trong đời sống xã hội ở từng công việc, trong mọi sinh hoạt của con người.

Chưa biết lúc nào sẽ có mô hình AI cộng sinh (Symbiotic AI), có thể là vào năm 2030, cũng có thể sớm hơn và cũng có thể muộn hơn, nhưng chắc chắn đó là điều có thể, chứ không phải không thể

Và khi Symbiotic AI xuất hiện, kỷ nguyên số sẽ từng bước đi vào lịch sử, chuẩn bị cho sự xuất hiện kỷ nguyên AI.

Kỷ nguyên số trả lời ta câu hỏi: "Làm thế nào để mọi thông tin được số hoá và kết nối?". Kỷ nguyên AI trả lời câu hỏi: "Làm thế nào trí thức được tạo ra, sử dụng và phát triển?". Loại hình AI trong Kỷ nguyên số là Generative AI (Trí tuệ thông minh tạo sinh).

Đến giai đoạn cuối của Kỷ nguyên số, con người sẽ chào đón Trí tuệ nhân tạo cộng sinh (Symbiotic AI) - một loại hình trí tuệ nhân tạo có vốn tri thức ngang bằng mọi con người thông minh hiện tại. Trí tuệ nhân tạo cộng sinh là cầu nối để nhân loại bước sang Kỷ nguyên AI.

Yếu tố cốt lõi
để con người
và Trí tuệ nhân tạo
có những hoạt động
cải tạo thế giới

Ý thức của con người - một yếu tố giúp loài người vượt lên trên thang tiến hoá muôn loài

Trong khoa học về con người, việc thừa nhận bộ não có tư duy của con người đã giúp cho loài người vượt xa mọi động vật trên thế giới. Những con vật thông minh nhất đã có bước tiến hoá tới một mức độ nào đó, nhưng bậc thang tiến hoá của con vật có một khoảng cách hầu như ngày càng xa với bậc thang tiến hoá của con người.

Sự tiến hoá vượt trội của con người là nhờ ở 3 yếu tố cốt lõi: Lao động, ngôn ngữ và đời sống xã hội. Tổng hoà 3 yếu tố này làm hình thành một trình độ trong trí tuệ gọi là Ý thức. 

Ý thức (Consciousness) là sản phẩm mà chỉ có trong bộ não người. Mọi sinh vật còn lại không hoạt động theo ý thức, mà theo bản năng. Giữa ý thức của con người và bản năng của con vật là một cái hố ngăn cách, khác biệt về bản chất, không có cơ hội nào san lấp được cái hố này. 

Mùa xuân năm 1845, tại Bruxell (Bỉ), Karl Marx viết "Luận đề về Phơ-bach - Theses on Feuerbac [Năm 1888, F.Engels lần đầu tiên công bố "Luận đề về Phơ-bách" trong tác phẩm "Ludwig Feuerbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức"] - một kiệt tác về triết học. Trong tác phẩm này, K. Marx đã đưa ra một luận thuyết nổi tiếng về con người. "Bản chất của con người không phải là một cái gì trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng lẻ. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là sự tổng hòa những quan hệ xã hội".

Với cách hiểu như trên của Marx, bản chất con người không nằm trong cơ thể con người, mà nằm ở ngoài xã hội. Đây là một đặc thù của con người: Muốn hiểu bản chất con vật, phải dựa vào những đặc điểm giải phẫu sinh lý của nó. Còn muốn tìm hiểu bản chất con người, cần đi sâu nghiên cứu con người trong hệ thống các quan hệ xã hội mà họ đang thực hiện.

Trong tác phẩm "Con người và Văn hóa", nhà tâm lý học Xô viết A.N. Leontiev (Aleksei Nicolaevich Leontiev, 1903-1979) cho rằng, sự tiến hoá của loài vật thể hiện ở những thay đổi trong cơ thể, còn sự tiến hoá của con người lại thể hiện ở những thay đổi trong thế giới đồ vật (The world of things). 

Một loài vật nào đó muốn kiếm thức ăn trên bờ sẽ phải có chân chứ không chỉ có vây, muốn bay cao thì phải có cánh và bộ lông vũ. Con người muốn chạy nhanh hơn ngựa thì họ chế tạo ra ô tô, xe máy, muốn bơi lặn như cá thì họ thiết kế các loại tàu, xuồng, còn muốn bay trên trời thì làm ra máy bay. Thế giới đồ vật là những hình thức vật thể hoá của ý thức con người.

Ngày nay, trong thế giới đồ vật vô cùng phong phú mà con người tạo ra có trí tuệ nhân tạo. Về thực chất, trí tuệ nhân tạo là trí tuệ của con người chuyển vào một hệ thống công cụ thông minh bên ngoài. Những tri thức của con người được đưa vào công cụ vật lý, được lập trình và kết nối, tạo ra cho công cụ một trình độ tư duy, tức là một trình độ trí tuệ nhất định.

René Descartes nói: "Tôi tư duy nên tôi tồn tại" (Je pense donc je suis). Những công cụ biết tư duy mà ta gọi là Trí tuệ nhân tạo cũng sẽ tồn tại, và chúng cũng tồn tại trong tiến hoá, nghĩa là chúng vận động và phát triển.

Song, trí tuệ nhân tạo không có ý thức, mà nó chỉ có tri thức. Yếu tố có ý thức quan trọng là cộng đồng xã hội (như trên đã nói) thì Trí tuệ nhân tạo không có. AI không sống trong những cộng đồng huyết thống (gia đình, dòng họ), cũng không có cộng đồng xã hội (dân tộc, quốc gia, quốc tế), cho nên khoảng cách về trí tuệ giữa Người và AI chính là ý thức - tri thức.

AI hiện nay học tập rất nhiều, học nhiều đến mức sẵn sàng trả lời con người hàng vạn câu hỏi, nhưng AI không biết vui/buồn, yêu/ghét, can đảm/nhút nhát; thấu cảm/thờ ơ... 

AI sẵn sàng giúp con người làm việc hiệu quả, nhưng con người không đặt ra cho AI những câu hỏi, những câu lệnh (Prompt) thì AI đứng yên. Tuy nhiên AI vẫn từng bước tiến hoá theo những ý tưởng sáng tạo của con người. 

Con người sẽ còn thiết kế ra những AI ngày càng thông minh, hướng tới sẽ có AI siêu thông minh (Superintelligence AI) vì mục đích sau:

Mô phỏng tư duy: Tái tạo khả năng nhận thức, suy luận, học tập và thích nghi của bộ não con người trên nền tảng máy tính.

Phục vụ con người: Tự động hoá các công việc gây nguy hiểm cho con người, những công việc lặp đi lặp lại các thao tác, giải phóng sức lao động và tối ưu hoá tiềm năng lao động sáng tạo của con người.

Giải quyết những bài toán lớn: Xử lý lượng dữ liệu khổng lồ để tìm ra lời giải cho các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, kinh tế, y tế...

Tri thức
và sự tiến hoá
của Trí tuệ nhân tạo

Như tôi đã nói ở phần trên rằng, con người có ý thức là nhờ 3 yếu tố hết sức cơ bản: Lao động, ngôn ngữ và xã hội. Với tư cách là một thực thể xã hội, con người tiến hoá theo quy luật xã hội - lịch sử.

Nhưng đến đây, tôi thấy một lần nữa phải làm rõ những điều kiện cần và đủ để con người có ý thức, từ đó nói rằng, lúc này AI chưa có những điều kiện như vậy, nó chỉ tri thức là yếu tố tạo động lực thực hiện các hoạt động mà thôi.

Những điều kiện cần để hình thành ý thức

- Có một hệ thần kinh xử lý những thông tin phức tạp và khả năng tích hợp thông tin từ nhiều nguồn.

- Khả năng tạo ra mô hình thế giới bên ngoài, giúp phân biệt bản thân với môi trường.

- Có khả năng tự biểu diễn (Self-representation), tức hệ thống có thể tạo ra mô hình về chính mình.

- Có trí nhớ liên tục, giúp kết nối quá quá khứ, hiện tại và dự đoán tương lai.

- Khả năng chú ý và lựa chọn thông tin, vì không phải mọi thông tin đều cần phải đưa vào ý thức.

- Tương tác lâu dài với môi trường và xã hội. Đối với con người, ngôn ngữ và đời sống xã hội có vai trò hết sức đặc biệt quan trọng để phát triển ý thức.

Những điều kiện đủ để hình thành ý thức

- Tích hợp thông tin ở mức rất cao, khiến toàn bộ hệ thống hoạt động như một chỉnh thể.

- Khả năng tự nhận biết bản thân (Tôi đang tồn tại, tôi đang suy nghĩ).

- Có trải nghiệm chủ quan (Subjective experience), tức là có cảm nhận từ bên trong chứ không chỉ xử lý dữ liệu.

- Có khả năng phản tỉnh (Metacognition): biết rằng mình biết và biết rằng mình không biết.

Trong tâm lý học hiện đại, có một định nghĩa về "ý thức" rất khái quát về cách hiểu. Đó là định nghĩa của Sergei Leonidovich Rubinstein (1889-1960) - nhà Tâm lý học và Triết học Xô Viết nổi tiếng - người đặt nền móng cho nguyên tắc thống nhất giữa ý thức và hoạt động.

Ông viết: "Ý thức là trí thức về những điều ngoài ta, về khách thể đối diện với chủ thể nhận thức. Ý thức chỉ sinh ra ở con người vì con người là một chủ thể tự tách mình ra khỏi ngoại giới và tách ngoại giới ra khỏi mình như là một khách thể, một sự vật".

Đây là một định nghĩa có tính trừu tượng cao và rất khó hiểu với những ai chưa thật nắm vững vấn đề phản ánh tâm lý của con người. Vì thế, tôi xin được thao tác hoá khái niệm này (Operationalization) để giúp hiểu nhanh hơn khi tiếp cận khái niệm.

Trí tuệ nhân tạo
tiến hoá
theo quy luật nào?

Khoa học hiện đại khẳng định rằng, cho đến thời điểm này, AI là một thực thể có tư duy nhưng chưa có ý thức, vì AI không có 1 yếu tố cốt lõi làm nên ý thức: cộng đồng xã hội. AI có ngôn ngữ của mình, AI lao động rất nghiêm túc và rất bền bỉ, nhưng AI không sống trong môi trường sống xã hội.

Cả A.N. Leontiev, Rubinstein và chính cả bản thân AI cũng nói rằng AI không có ý thức như người. Trả lời câu hỏi của tôi: "AI, về bản chất, là một thực thể như thế nào?" thì ChatGPT trả lời rằng, bản thân AI là một máy tính được tích hợp những tri thức của con người thông qua quá trình tự học. 

Con người đã lập trình hoạt động của AI trên nền tảng những tri thức đã tiếp nhận và AI thực hiện những hoạt động theo các câu lệnh của con người. AI chưa phải là một nhân vật, mà chỉ là một hệ thống tổ chức thông minh - nói cách khác, AI vẫn là một công cụ.

Vậy, trình độ Tri thức của AI so với trình độ hiểu biết của con người (một bên dựa trên nền tảng của tri thức, một bên là có ý thức về cuộc sống) có khác biệt ra sao?

AI ngày càng có thêm tri thức, tốc độ tiếp cận và tích luỹ rất nhanh, đến một lúc nào đó tri thức của AI nhiều hơn tri thức của một con người cụ thể.

Con người luôn hơn AI về tình cảm, trách nhiệm xã hội, đạo đức và lương tâm trong hoạt động.

Đến đây, ta có thể so sánh trình độ sống của con người với trình độ sống của AI (tại thời điểm hiện tại).

AI có 4 điều không đạt như con người

- AI không có trạng thái vui vẻ hay âu sầu, vui vẻ hay đau khổ, phấn chấn hay chán nản, yêu thương hay chán ghét...

- AI không có ý niệm nào về sự tồn tại của chính mình.

- AI làm việc nhưng không theo một niềm tin, một lý tưởng hay một động cơ nào.

- AI không sống với ký ức, không có hoài niệm về cuộc sống đã qua và cũng không cần tới kinh nghiệm sống như con người.

Knowledge giúp cho AI hiểu thế giới - Consciousness giúp cho con người hiểu chính mình trong thế giới. AI ngày càng mạnh mẽ nhờ gia tốc tiếp nhận các Knowledge ngày càng lớn, còn con người ngày càng gia tăng trách nhiệm đạo đức trong xã hội và nâng cao năng lực kiến tạo thế giới văn minh lớn hơn nữa.

Sự hiểu biết của con người và sự hiểu biết của AI có cấu trúc không giống nhau:

Hiểu biết của con người = Tri thức (Knowledge) + Trải nghiệm (Experience) + Ý thức (Consciousness) + Giá trị (Value) + Cảm xúc (Emotion).

Hiểu biết của AI : Tri thức + Nhận dạng quy luật (Pattern recognition) + Suy luận (Reasoning).

Đến đây, ta có thể thấy rõ những quy luật tiến hoá đã diễn ra như thế nào đối với con vật, con người và AI.

Con vật tiến hoá theo quy luật sinh học. Động lực tiến hoá của con vật là: Đột biến di truyền; Chọn lọc tự nhiên; Thích nghi với môi trường. Theo quy luật này, để tiến hoá, con vật phải thay đổi những đặc điểm giải phẫu sinh lý. Động vật tiến hoá nhờ gen.

Con người tiến hoá theo quy luật xã hội - lịch sử. Động lực tiến hoá của con người là: Tích luỹ tri thức; Truyền thừa văn hoá; Phát triển khoa học - công nghệ; Quan hệ xã hội và lịch sử? Để tiến hoá, con người phải thay đổi thế giới đồ vật. Con người tiến hoá nhờ văn hoá.

AI tiến hoá theo quy luật phát triển tri thức - công nghệ. Động lực tiến hoá của AI là: Khối lượng tri thức nhân loại tăng lên không ngừng. Các công nghệ hiện đại tiến bộ rất nhanh, các quốc gia thúc đẩy công nghệ để tạo ưu thế cạnh tranh. Nhu cầu xã hội đòi hỏi AI luôn được cải tiến để đáp ứng kịp thời.

Sức mạnh tính toán và dữ liệu tăng lên, các thuật toán hiệu quả hơn, giúp cho AI có những năng lực mới. Sự cộng sinh với con người buộc AI phải phát triển liên tục với gia tốc ngày càng tăng.

Để tiến hoá, AI phải thay đổi kiến trúc nhận thức (Cognitive Architecture) theo hướng kiến trúc ý thức của con người.

Hiện nay, chưa đủ điều kiện để kết luận AI có thể trở thành một người máy không chỉ sở hữu hình dạng con người, hiểu được ngôn ngữ người, làm được nhiều công việc do người yêu cầu, mà hy vọng sẽ có trạng thái xúc cảm trong tiếp xúc, giao lưu với con người.

Đó là chuyện viễn tưởng mà nhiều nhà văn, nhà khoa học đã từng nói đến - Bộ não có tư duy mà con người hiện đại đã giúp cho những ước mơ của Jules Verne, của Konstantin Eduardovich Tsiolkovsky thành hiện thực. 

Bộ não đó chắc sẽ có ngày làm ra một con người khôi ngô, tuần tự lái con tàu vũ trụ, biểu diễn đàn dương cầm hay đọc tham luận trên diễn đàn khoa học... mà bản thân họ không phải là con người sinh học như chúng ta. Đó là Superintelligence AI, sống cộng sinh trong xã hội loài người.

Con người cần
những năng lực nào
để sống
cùng AI?

AI đã và đang phát triển theo 3 nấc: AI tạo sinh, AI cộng sinh và AI tổng quát. Hiện nay, ta đang chung sống với AI tạo sinh, sắp chung sống với AI cộng sinh và sẽ chung sống với AI tổng quát.

Với 3 cấp AI (3 thế hệ AI) nói trên, mỗi người phải chuẩn bị những tổ hợp năng lực sống với AI.

Những năng lực cần có để sống cùng AI tạo sinh (Generative AI): Biết học cùng AI. Biết hỏi đúng với AI. Biết kiểm chứng công việc của AI. Biết sáng tạo với AI.

Những năng lực cần có để cộng sinh với AI cộng sinh (Symbiotic AI): Biết hợp tác với AI như một cộng sự. Biết kết hợp trí tuệ con người với trí tuệ AI. Biết thích nghi liên tục trong môi trường hợp tác người - AI. Biết quản trị rủi ro và đạo đức AI.

Những năng lực cần có để dẫn dắt AI tổng quát (General AI): Có tầm nhìn chiến lược. Có minh triết và năng lực phán đoán. Có khả năng kiến tạo văn hóa, thể chế và mục tiêu phát triển. Chịu trách nhiệm cuối cùng đối với các quyết định ảnh hưởng đến con người và xã hội.

Nền giáo dục cần làm gì đểcon người chung sống, hoạt động cùng AI?

Bước vào kỷ nguyên số với Generative AI và hướng tới kỷ nguyên AI với Symbiotic AI và General AI, ngay từ bây giờ nền Giáo dục đã phải được nâng cấp và có đủ hạ tầng cơ sở để thay đổi mục tiêu đào tạo, nội dung và phương pháp giáo dục. Có 5 vấn đề cơ bản sau đây đặt ra cho giáo dục:

1. Chuyển từ "Học để biết" sang "Học để kiến tạo cùng AI"

Trong giai đoạn Generative AI hoạt động, tri thức không còn khan hiếm. Việc dạy học chỉ tập trung vào ghi nhớ thông tin là lỗi thời. 

Việc dạy phải giúp cho người học có những năng lực hay kỹ năng sau: Biết đặt câu hỏi cho AI; Biết tìm kiếm và đánh giá thông tin; Biết dùng AI như một công cụ tư duy; Biết sáng tạo ra tri thức mới từ sự tương tác giữa người và AI.

Việc "hỏi đúng" có tầm quan trọng không kém việc "trả lời đúng".

2. Xây dựng năng lực cộng sinh "Người - AI"

Nếu Symbiotic xuất hiện, con người cần được giáo dục để: Làm việc cùng AI như một cộng sự; Phân chia rõ ràng nhiệm vụ giữa người và AI; Hiểu giới hạn của AI; Quản trị dữ liệu và quyền riêng tư; Duy trì quyền tự chủ trong các quyết định quan trọng.

Đến đây, giáo dục phải cho con người biết hợp tác nhận thức (Cognitive collaboration) chứ không chỉ hợp tác giữa người - người. Hợp tác nhận thức là năng lực "hợp tác người - AI".

3. Đưa đạo đức và trách nhiệm trở thành năng lực trung tâm

AI càng mạnh, trách nhiệm của con người càng lớn. Giáo dục cần chuyển trọng tâm từ tri thức sang phẩm chất nhân văn. AI có thể nhận thức nhanh hơn con người.

Nhưng lợi thế cốt lõi của con người là: Đạo đức; Đồng cảm; Trách nhiệm; Khả năng xác định mục đích; Năng lực kiến tạo ý nghĩa và giá trị.

AI có thể trả lời câu hỏi "Làm thế nào", nhưng giáo dục phải giúp con người câu hỏi "vì sao" và "nên làm gì".

4. Hình thành năng lực học tập suốt đời

Khi tiến vào kỷ nguyên số, và rồi đến kỷ nguyên AI, kiến thức và nghề nghiệp sẽ thay đổi rất nhanh. Trong điều kiện đó, năng lực quan trọng nhất không phải là năng lực nghề nghiệp cụ thể.

Chủ yếu là năng lực: Học nhanh; Tự học; Học cùng AI; Thích nghi với những nghề chưa tồn tại.

5. Phát triển minh triết

Phát triển năng lực đối thoại với Generative AI; Phát triển năng lực cộng sinh với Symbiotic AI; Phát triển năng lực dẫn dắt với General AI; Phát triển năng lực minh triết với Superintelligence AI.

Nếu như con người ngày càng đầu tư vào AI, làm cho AI thông minh theo thời gian, thì mọi chương trình giáo dục lại phải đào tạo con người (và cả cộng đồng người, cả dân tộc và nhân loại ngày càng thông thái.

Thông thái là điều kiện cốt lõi để tầm nhìn của bộ não người chuyển sang năng lực tiên nghiệm (Transcendence) và cuối cùng đạt được sự minh triết (Wisdom).

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người con ưu tú hàng đầu của dân tộc Việt Nam, là người đầu tiên nói lên điều mong mỏi lớn lao: Phải học hành để dân tộc Việt Nam trở nên thông thái.

Ngày xuất bản:

8/8/2026

Nội dung:

GS.TS Phạm Tất Dong

Trình bày:

Hà Phong

Đồ hoạ:

Có sử dụng AI

Chia sẻ:

Đã copy link

Nguồn Công dân & Khuyến học: https://congdankhuyenhoc.vn/ky-nguyen-tri-tue-nhan-tao-dang-den-rat-gan-179260808122212067.htm