Kỷ niệm 81 năm ngày hy sinh của 'ngọn đuốc sống' - Anh hùng Lê Văn Tám (18/10/1945 - 18/10/2026): Sáng mãi muôn đời 'ngọn đuốc sống Lê Văn Tám': Bài 4: Ai đốt kho xăng Thị Nghè?
Sau khi xảy ra trận đánh kho xăng Thị Nghè, Đài Việt Minh A (VMA) của Xứ ủy và Ủy ban Nhân dân Nam Bộ ở Mỹ Tho phát đi mẩu tin chiến sự viết rằng, người đốt kho xăng này là 'Một chiến sĩ Việt Nam'. Căn cứ vào nguồn tin gốc đó, những tờ báo đăng tin sớm nhất từ hạ tuần tháng 10 đến thượng tuần tháng 11/1945 đều viết thống nhất là: 'Một chiến sĩ Việt Nam', 'Một chiến sĩ ta', 'Một chiến sĩ nhỏ', 'Un militant Vietnamien', 'Un soldat'...
Một thời gian sau (khoảng 1946 - 1947), trên chiến trường Nam Bộ đã thấy xuất hiện nguồn tin truyền khẩu lan truyền rằng: chiến sĩ đốt cháy kho xăng Thị Nghè là "Tám", "Em Tám". Còn tại Thủ đô Hà Nội, ngoài việc các cơ quan thông tin đại chúng đưa tin người đốt cháy kho xăng Thị Nghè là "Một chiến sĩ” theo nguồn tin chính thống ở Mỹ Tho, báo chí còn vinh danh người chiến sĩ này thành những biểu tượng thiêng liêng là: "Lửa thiêng", "Ngọn đuốc sống" (torche vivante), "Chiến sĩ anh hùng" (héroêsme dun combattant), "Anh hùng vô danh" (héros anonyme)...
Trên cơ sở khai thác và giới thiệu tư liệu này, tôi muốn đặc biệt lưu ý với bạn đọc về việc ông Phan Huy Lê khẳng định rằng: "Ông Trần Huy Liệu dựng lên câu chuyện thiếu niên Lê Văn Tám và là người đặt tên Lê Văn Tám". Dựa vào kết quả của công tác nghiên cứu lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp của Nhân dân thành phố Sài Gòn qua các nhân chứng, qua văn bản và tiến hành khảo sát tại thực địa về trận đánh kho xăng Thị Nghè, chúng tôi cho rằng những ý kiến trên đây là sự đơm đặt, là việc lật sử, vì những lý lẽ sau đây:
- Một là, ông Phan Huy Lê nói ông Trần Huy Liệu đã đặt tên cho Lê Văn Tám. Đây hoàn toàn là chuyện "khẩu thật vô bằng", vì nhiều người đã lục lọi sách báo được lưu giữ trong thư viện khoa học và các cơ quan lưu trữ tư liệu quốc gia, nhưng không sao tìm ra được tên Lê Văn Tám ở trong đó - đặc biệt là các tờ báo lớn như: Cứu quốc, Cờ giải phóng, Độc lập, La République...
Càng khó hiểu hơn, với cương vị là Tổng thư ký của 48 số tạp chí Văn Sử Địa xuất bản trong 5 năm (1954 - 1959), và sau đó làm Tổng biên tập của tạp chí Nghiên cứu Lịch sử; thế nhưng, ông Trần Huy Liệu không có bài viết nào đăng trong các tạp chí này về Lê Văn Tám và trận đánh kho xăng Thị Nghè.

Địa điểm của kho dầu Simon Piétri, còn được gọi là kho xăng dầu Thị Nghè hay kho xăng đạn Thị Nghè (bản đồ do một số cán bộ lão thành ở quận Bình Thạnh vẽ năm 2015)
- Hai là, ông Phan Huy Lê nói rằng ông Trần Huy Liệu đã đặt tên Lê Văn Tám là để "cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta". Thế nhưng tại sao trong bài viết đăng trên báo Cứu quốc ngày 23/10/1945, Bác Hồ không gọi tên người chiến sĩ đốt kho xăng Thị Nghè là Lê Văn Tám (như ông Bộ trưởng Bộ Thông tin tuyên truyền Trần Huy Liệu đã đặt) mà gọi là "Một chiến sĩ” như nguồn tin Đài VMA của Xứ ủy và Ủy ban Nhân dân Nam Bộ đã phát. Có phải chăng cái gọi là việc "đặt tên Lê Văn Tám", ông Trần Huy Liệu đã giấu Hồ Chủ tịch và Ban Thường vụ Trung ương Đảng, hay là Cụ Hồ đã biết nhưng không đồng tình cách làm của ông Trần Huy Liệu. Không ít cán bộ lão thành và cựu chiến binh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp đã hỏi tôi như vậy.
- Ba là, tôi đã được đọc biên bản của 15 phiên họp Hội đồng Chính phủ do Bác Hồ chủ trì từ ngày 24/9/1945 đến ngày 02/3/1946, trong đó có 8 phiên họp nghe báo cáo về tình hình chiến sự tại thành phố Sài Gòn và trên chiến trường Nam Bộ. Tôi rất ngạc nhiên vì trong đó hoàn toàn không có ghi chép gì về "câu chuyện thiếu niên Lê Văn Tám (do ông Trần Huy Liệu dựng lên) đã tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng địch cách đấy mấy chục mét ở Thị Nghè” - như ông Phan Huy Lê đã viết.
Vậy thì tìm ở đâu ra Lê Văn Tám để chứng minh với bàn dân thiên hạ rằng, việc ông Bộ trưởng Thông tin tuyên truyền Trần Huy Liệu đặt tên Lê Văn Tám là "tạo dựng nên một biểu tượng anh hùng để tuyên truyền"?
Những sự kiện đã được trình bày trên đây cho thấy rõ, tên người đốt cháy kho xăng Thị Nghè vào tháng 10/1945 đã xuất phát ngay trên vùng đất xảy ra trận đánh giữa thành phố Sài Gòn, giữa lòng quê hương Nam Bộ. Đó là những cái tên thiêng liêng: "Một chiến sĩ Việt Nam" (do Đài VMA, Đài Phát thanh Sài Gòn phát), "Em Tám", "Lê Văn Tám" (đã được truyền khẩu trong cán bộ, Nhân dân vùng giải phóng).
Vậy có phải chăng tên Lê Văn Tám do ông Trần Huy Liệu đặt. Trong một bài viết đăng trên tạp chí Xưa và Nay, ông Phan Huy Lê đã quả quyết rằng, ông Trần Huy Liệu đã "dựng câu chuyện" và đặt tên Lê Văn Tám, rồi lúc về già cảm thấy lòng không yên nên đã trút bầu tâm sự với ông và dặn ông hãy công bố cho bàn dân thiên hạ biết. Nói thật lòng, tôi không bao giờ tin chuyện đó, bởi cụ Trần Huy Liệu đối với tôi không phải là người xa lạ. Đối với tôi, cụ là bậc tiền bối Cách mạng, tuổi tác thuộc hàng cha, chú; đồng thời là người làm việc cùng cơ quan. Hơn 60 năm trước đây, tôi từng được tiếp cận với cụ trong thời gian công tác tại Ủy ban Khoa học Nhà nước, Ủy ban Khoa học xã hội. Hồi đó, cụ có chân trong Ban Thường vụ của Đảng ủy Ủy ban Khoa học Nhà nước, còn tôi là Đảng ủy viên phụ trách công tác Đoàn Thanh niên. Vì cuộc đời của cụ đã nhiều năm lăn lộn hoạt động trên mảnh đất Nam Bộ quê hương tôi, nên tôi rất tôn kính cụ. Và cụ cũng quý mến tôi, một cán bộ trẻ ở vùng đất Nam Bộ tập kết ra Bắc.
Không thể nào quên, hồi mùa thu năm 1965, tại một nơi cơ quan đang đi sơ tán ở tỉnh Hà Bắc, trước khi tôi lên đường sang Liên Xô để nhận nhiệm vụ công tác mới, cụ đã đến thăm tôi và nhờ tôi chuyển cho người con gái cụ đang học ở trường Đại học Lomonossov bức thư và mấy cân gạo nếp.
Chính vì hiểu cụ Trần Huy Liệu, nên tôi không sao lý giải được điều này: Việc đặt tên Lê Văn Tám là cốt "để cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta" (như ông Phan Huy Lê đã viết), thế nhưng vì nguyên cớ gì cụ Trần Huy Liệu là Bộ trưởng Bộ Thông tin tuyên truyền, là Bí thư Tổng bộ Việt Minh, là một đảng viên, lại cố tình giấu giếm chuyện "ích quốc lợi dân" này với Bác Hồ và không báo cáo với Ban Thường vụ Trung ương Đảng, giấu cả những chiến hữu chí cốt đang lãnh đạo cuộc kháng chiến trên chiến trường Nam Bộ - những người trước kia đã từng vào tù ra tội với cụ tại nhà lao Côn Đảo - như: Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Trung tướng Nguyễn Bình...
Chuyện này thật là khó hiểu, càng phi lý hơn, vì lẽ gì Viện trưởng Trần Huy Liệu lại đem chuyện gan ruột của mình ra để bộc toẹt với ông Phan Huy Lê - người không ngang vai vế với mình và kém hơn mình tới 31 tuổi. Và cớ gì cụ Trần Huy Liệu không đem chuyện này ra để đàm đạo với các bạn tâm giao là những vị lão tướng của ngành sử học được nhiều người mến mộ và trọng vọng, như Giáo sư - Viện sĩ Nguyễn Khánh Toàn, nguyên là Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội. Ông đã 11 năm làm Viện trưởng Viện Sử học (1969 - 1980), sau ông Trần Huy Liệu.
Viết tới đây, tôi nhớ tới một câu chuyện. Khoảng 15 năm trước, trong khi ra Hà Nội có việc cần, tôi ghé qua nhà thăm Giáo sư Văn Tạo. Ông là nhà sử học được trọng vọng, người đã 7 năm làm Viện trưởng Viện Sử học, sau ông Nguyễn Khánh Toàn. Trong những năm 1961 - 1963, có thời gian ông Văn Tạo cùng học với chúng tôi trong Đoàn nghiên cứu sinh của Ủy ban Khoa học Nhà nước Việt Nam tại Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Ông Văn Tạo nghiên cứu môn Sử học ở Viện Sử học. Còn tôi, nghiên cứu môn Lịch sử Triết học tại Viện Triết học. Chúng tôi cùng sinh hoạt trong Đoàn nghiên cứu sinh và trong Chi bộ Đảng, có mối quan hệ đồng chí, anh em thân tình.
Nhân gặp Giáo sư Văn Tạo, tôi hỏi ông: "Câu chuyện về Lê Văn Tám do ông Phan Huy Lê tung ra đang lùm xùm. Vì sao ông Trần Huy Liệu không nói việc này với ông Nguyễn Khánh Toàn, với anh, mà lại tỉ tê với ông Phan Huy Lê?". Vốn là người từ tốn, ông Văn Tạo nhìn tôi, vừa cười khề khà vừa nói: "Ừ, kể cũng lạ!".
Giải thích vì sao cụ Trần Huy Liệu chọn tên Lê Văn Tám để đặt cho người chiến sĩ đốt cháy kho xăng Thị Nghè, ông Phan Huy Lê viết: "Việc đặt tên Lê Văn Tám là vì họ Lê Văn rất phổ biến ở nước ta và Tám là nghĩ đến Cách mạng tháng Tám". Tôi nghĩ, lý giải theo kiểu này, chính Giáo sư Phan Huy Lê đã làm hại ông thầy Trần Huy Liệu. Là người bác cổ thông kim, có lẽ nào nhà sử học họ Trần lại không biết rằng ngay từ năm 1936, trong quyển "Les paysans du Tonkinois" học giả người Pháp Pierre Gourou đã viết rõ: ở Việt Nam có 6 họ phổ biến nhất là Nguyễn, Trần, Lê, Vũ, Phạm và Ngô. Ba họ Nguyễn, Trần, Lê chiếm tỷ lệ dân số cao nhất. Trong cả nước họ Nguyễn chiếm 33%, còn ở Bắc Bộ họ Nguyễn chiếm 37%.
Tại thành phố Sài Gòn - Gia Định trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, căn cứ theo số liệu điều tra thí điểm ở quận Tân Bình năm 1972 cho thấy: họ Nguyễn chiếm 32%, họ Trần chiếm 11%, họ Lê chiếm 7%.
Trong cuốn "Họ và tên người Việt Nam" của Tiến sĩ Lê Minh Hoan, do Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 2005, cũng nêu lên những số liệu thống kê đáng chú ý: họ Nguyễn chiếm 38,4%, họ Trần chiếm 11%, họ Lê chiếm 9,5%.
Trong danh sách 256 Liệt sĩ quân cảm tử của Tiểu đoàn Quyết tử 950 Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định do đồng chí Vũ Hải Sơn - nguyên Tham mưu trưởng của Tiểu đoàn này cung cấp cho tôi thì, số người thuộc họ Nguyễn chiếm 35%, họ Trần 11%, họ Lê 10%.
Rõ ràng, những số liệu trên đây chính là cơ sở khoa học để xác minh rằng "vì họ Lê Văn rất phổ biến ở nước ta" nên ông Trần Huy Liệu dựa theo đó đặt tên Lê Văn Tám (như ông Phan Huy Lê viết) là hoàn toàn không chính xác.
Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/tin-chinh/bai-4-ai-dot-kho-xang-thi-nghe_198673.html
