Ký ức 30/4 của những người lính bên dòng sông Đà

Những ngày tháng tư lịch sử, chúng tôi tìm về những bản làng bên dòng sông Đà của vùng đất Quỳnh Nhai, thăm các cựu chiến binh năm xưa, từng một thời xẻ dọc Trường Sơn chống Mỹ cứu nước, góp phần làm nên đại thắng Mùa xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Cựu chiến binh Lò Văn Chới, xã Mường Chiên giới thiệu các phần thưởng cao quý được Đảng, Nhà nước trao tặng.

Cựu chiến binh Lò Văn Chới, xã Mường Chiên giới thiệu các phần thưởng cao quý được Đảng, Nhà nước trao tặng.

Từ xã Quỳnh Nhai, chúng tôi đi thuyền ngược về thượng lưu hồ thủy điện Sơn La, đến bản Cà Nàng, xã Mường Chiên thăm cựu chiến binh Lò Văn Chới. Đón chúng tôi trong căn nhà sàn truyền thống, dù đã bước sang tuổi 80, ông vẫn nhanh nhẹn, đôi mắt sáng lên khi nhắc về quãng thời gian tham gia kháng chiến chống Mỹ. Năm 1965, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chàng trai trẻ Lò Văn Chới, tròn 19 tuổi đã viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Sau khi huấn luyện tại Nà Sản, ông được biên chế vào Đại đội Pháo cao xạ thuộc Quân khu Tây Bắc (nay là Quân khu 2). Đến năm 1968 ông được điều động vào chiến trường miền Nam, biên chế vào Sư đoàn 316 trực tiếp chiến đấu tại chiến trường Bình Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi, với nhiệm vụ của đánh càn, bảo vệ vùng giải phóng và chống lại các đợt phản kích lấn chiếm của quân địch.

Ông Chới chia sẻ: Tôi nhớ nhất là những trận đánh năm 1972, 1973, tại Bình Định, Quảng Ngãi, tôi đã cùng đồng đội dùng pháo 12 ly 7 tiêu diệt tổng cộng 8 chiếc máy bay địch. Còn trong trận đánh tại đèo Bình Đê (nằm giữa tỉnh Bình Định và tỉnh Quảng Ngãi lúc bấy giờ), trong lúc khẩu đội đang tập trung hỏa lực bắn máy bay bay tầm thấp, địch phát hiện ra vị trí và thả đạn pháo, nhiều đồng đội của tôi đã hy sinh, ngã xuống ngay bên cạnh. Bản thân tôi cũng bị thương nặng, máu nhuộm đỏ cả quân phục. Năm 1974, tôi được đơn vị điều chuyển nhận nhiệm vụ theo học lớp chỉ huy tại Quảng Ngãi. Ngày 30/4/1975, khi nhận được tin quân ta đánh chiếm được Dinh Độc Lập, miền Nam hoàn toàn giải phóng, chúng tôi vui mừng vô tận, cảm thấy mọi hy sinh, mọi gian khổ trải qua đều xứng đáng và tự hào khi được góp một phần công sức vào chiến thắng ấy nhưng cũng không khỏi bồi hồi khi nhớ về những người đồng đội đã hy sinh.

Tấm bảng treo huân chương của CCB Lò Văn Chới, xã Mường Chiên.

Tấm bảng treo huân chương của CCB Lò Văn Chới, xã Mường Chiên.

Chiến tranh kết thúc, năm 1976, ông Lò Văn Chới trở về quê hương, mang trên mình thương tật hạng 4/4 vẫn không chọn nghỉ ngơi mà tích cực tham gia vào công tác tại địa phương, trở thành Thư ký UBND xã, Bí thư Chi bộ bản, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã và Bí thư Đảng ủy xã, đến năm 2006 nghỉ chế độ. Trong suốt những năm tháng chiến đấu quả cảm, ông Lò Văn Chới đã vinh dự được phong tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Chiến công hạng Ba; 2 lần được trao Huân chương Chiến sĩ giải phóng và được tặng danh hiệu Chiến sĩ bắn máy bay Mỹ.

Nếu ông Chới là người lính của những trận đánh phòng ngự, phản kích, thì cựu chiến binh Lò Hồng Sơn, tiểu khu 5, xã Quỳnh Nhai lại mang trong mình ký ức của những ngày thần tốc tiến về Sài Gòn. Gặp ông Sơn trong bộ quân phục chỉnh tề, phong thái dứt khoát, giọng nói sang sảng, người nghe như bị cuốn vào hành trình của những ngày tháng 4/1975 lịch sử. Nhập ngũ năm 1973 khi tròn 22 tuổi, sau thời gian huấn luyện cấp tốc tại Nghệ An, ông được biên chế vào Trung đoàn Pháo binh, Sư đoàn 316. Ông Sơn bồi hồi kể lại: Tôi nhớ như in quãng thời gian hành quân vào miền Nam. Mất 2 tháng ròng rã đi bộ, ngày ẩn nấp trong rừng, đêm mới bật đèn gầm xe để hành quân. Tết năm 1973, chúng tôi đón xuân trong những cánh rừng khộp Tây Nguyên, thiếu thốn đủ bề nhưng tình đồng đội thì ấm áp vô cùng.

Sau khi tham gia Chiến dịch giải phóng Buôn Ma Thuột, đơn vị ông tiếp tục hành quân thần tốc tiến về Sài Gòn với nhiệm vụ đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, yểm trợ cho quân chủ lực. Càng đến gần trung tâm chính quyền địch, không khí chiến đấu càng trở nên sôi sục. Ánh mắt rực sáng mà ngấn lệ, giọng nghẹn lại khi nhớ về thời khắc lịch sử, ông Sơn kể tiếp: Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30/4, khi nhận được thông báo quân ta đã chiếm được Dinh Độc Lập, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, cảm xúc lúc đó thực sự không thể diễn tả bằng lời. Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, reo hò, nước mắt trào ra vì hạnh phúc tột độ. Đó là giây phút vỡ òa nhất trong đời người lính, vừa xúc động, vừa tự hào và vinh dự khi được là chiến sĩ, đóng góp vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc, được tận mắt chứng kiến đất nước thống nhất.

Cựu chiến binh Lò Hồng Sơn, xã Quỳnh Nhai cùng vợ ngắm lại những bức ảnh kỷ niệm.

Cựu chiến binh Lò Hồng Sơn, xã Quỳnh Nhai cùng vợ ngắm lại những bức ảnh kỷ niệm.

Năm 1983, ông Lò Hồng Sơn phục viên trở về cuộc sống đời thường, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, người lính năm xưa tiếp tục cống hiến cho quê hương, trở thành Bí thư Đảng ủy xã trách nhiệm, tâm huyết. Đến năm 2012, ông Sơn được nghỉ hưu theo chế độ, luôn gương mẫu cho con cháu noi theo.

Hai câu chuyện, hai hành trình khác nhau, nhưng ông Chới và ông Sơn đều có một điểm chung là tình yêu nước nồng nàn và tinh thần cống hiến bền bỉ. Những vết sẹo trên thân thể, những huân, huy chương trên ngực áo như những bằng chứng sống động nhất cho một thời “hoa lửa”.

Bên dòng sông Đà xanh mát, nơi những bản làng đang từng ngày đổi mới, hình ảnh những cựu chiến binh như ông Chới, ông Sơn vẫn là tấm gương sáng ngời. Họ không chỉ là những nhân chứng sống của lịch sử mà còn là những “ngọn lửa” truyền tình yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ tiếp nối truyền thống cách mạng, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

Thanh Đào (Ghi theo lời kể của nhân vật)

Nguồn Sơn La: https://baosonla.org.vn/xa-hoi/ky-uc-304-cua-nhung-nguoi-linh-ben-dong-song-da-vdQGWhoDg.html