Làm rõ trách nhiệm, đảm bảo nguồn lực bảo vệ môi trường
Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, ĐBQH Trần Thị Vân (TP. Bắc Ninh) cơ bản nhất trí với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật nhằm thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ môi trường; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và khắc phục những bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện.
Đồng thời, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp; đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, góp phần bảo đảm phát triển nhanh, bền vững trong thời kỳ mới.
Xác định rõ trách nhiệm xử lý ô nhiễm môi trường
Góp ý khoản 2 Điều 1 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 4 Luật hiện hành, ĐBQH Trần Thị Vân cho rằng quy định “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm về vấn đề ô nhiễm môi trường thuộc trách nhiệm quản lý xảy ra trên địa bàn” là đúng về nguyên tắc, giúp xác định rõ hơn trách nhiệm của người đứng đầu địa phương đối với công tác bảo vệ môi trường.

ĐBQH Trần Thị Vân (TP. Bắc Ninh) phát biểu tại phiên thảo luận tổ
Tuy nhiên, theo đại biểu, thực tế cho thấy vấn đề ô nhiễm môi trường thường liên quan đến nhiều chủ thể, như doanh nghiệp gây ô nhiễm, công tác quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã, cơ quan chuyên môn cấp tỉnh hoặc thành phố, cơ quan quản lý chuyên ngành.
Nếu dự thảo Luật chỉ quy định Chủ tịch UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm mà không quy định rõ các chủ thể chịu trách nhiệm liên đới, đồng thời chưa xác định cụ thể mối quan hệ giữa chịu trách nhiệm và tổ chức thực hiện trách nhiệm thì quy định về trách nhiệm của người đứng đầu chỉ dừng ở mức nguyên tắc.
Do đó, ĐBQH Trần Thị Vân đề nghị Ban soạn thảo rà soát, nghiên cứu bổ sung quy định về việc xác định cơ quan chủ trì xử lý và cơ quan phối hợp xử lý; đồng thời bổ sung quy định giao trách nhiệm cho địa phương.
Về khoản 3 Điều 1 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 5 Luật hiện hành, quy định về đa dạng hóa và phát huy hiệu quả các nguồn đầu tư cho bảo vệ môi trường; bố trí khoản chi riêng cho bảo vệ môi trường trong ngân sách nhà nước với tỷ lệ tăng dần theo tốc độ, quy mô tăng trưởng của nền kinh tế và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ môi trường; ưu tiên nguồn kinh phí cho các nhiệm vụ trọng điểm về môi trường, đại biểu cho rằng quy định này còn mang tính định hướng, chưa xác định tỷ lệ chi ngân sách cụ thể cho bảo vệ môi trường.
Theo ĐBQH Trần Thị Vân, quy định này chưa cụ thể hóa đầy đủ chủ trương của Đảng tại Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu, trong đó yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường.
Từ đó, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định tỷ lệ chi tối thiểu cho bảo vệ môi trường trong tổng chi ngân sách nhà nước như một số lĩnh vực khác đã được cụ thể hóa trong luật.
Tháo gỡ vướng mắc trong đánh giá tác động và phân loại chất thải
Góp ý mục 3 khoản 13 Điều 1 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 31 Luật hiện hành, ĐBQH Trần Thị Vân cho rằng quy định “Mỗi dự án đầu tư lập một báo cáo đánh giá tác động môi trường” sẽ gây khó khăn trong quá trình triển khai các thủ tục về môi trường đối với một số dự án đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp. Đại biểu nêu thực tế, một số khu công nghiệp trên địa bàn được thực hiện theo phân kỳ giai đoạn, chấp thuận chủ trương của Thủ tướng Chính phủ nên được cấp nhiều Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Trong khi đó, hạ tầng kỹ thuật, trạm xử lý nước thải vẫn được đầu tư chung cho các giai đoạn nhưng trong quá trình lập báo cáo đánh giá tác động môi trường lại không được xem xét hồ sơ do không phù hợp với quy định.
ĐBQH Trần Thị Vân đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp theo hướng quy định cụ thể các tiêu chí của cơ quan có thẩm quyền về điều kiện, tiêu chuẩn đánh giá đối với công trình bảo vệ môi trường sau khi hoàn thành.
Đồng thời, đại biểu đề nghị quy định cơ chế, chính sách ưu tiên, ưu đãi để các tổ chức, cá nhân đổi mới công nghệ, áp dụng công nghệ tiên tiến trong khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản nhằm tiết kiệm tài nguyên, tăng giá trị của khoáng sản, giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực tới môi trường.
Cùng với đó, cần quy định cơ chế hỗ trợ công tác quản lý nhà nước về môi trường từ nguồn thu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; quy định chi tiết, cụ thể về điều kiện cũng như cơ chế kiểm tra, giám sát đối với các trường hợp doanh nghiệp xin cấp các loại giấy phép môi trường vượt quá quy mô, tính chất của dự án hoạt động, cũng như yêu cầu về bảo vệ môi trường của dự án.
Đối với khoản 42 Điều 1 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 75 Luật hiện hành về phân loại và quản lý chất thải rắn sinh hoạt, đại biểu đề nghị tiếp tục làm rõ giới hạn và nguyên tắc của sự khác nhau giữa các địa phương.
Theo dự thảo, chất thải rắn sinh hoạt được phân loại thành 3 nhóm gồm chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế; chất thải thực phẩm; chất thải rắn sinh hoạt khác. Đồng thời, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân theo lộ trình do Chính phủ quy định, phù hợp với nguyên tắc của Luật và bảo đảm phân loại tối thiểu thành hai nhóm, trong đó có nhóm chất thải rắn có khả năng tái sử dụng, tái chế.
Theo ĐBQH Trần Thị Vân, quy định này giao cho UBND cấp tỉnh quyết định việc phân loại cụ thể chất thải sinh hoạt, đồng thời quy định việc quản lý, lưu giữ, chuyển giao chất thải cồng kềnh, chất thải nguy hại phát sinh từ hộ gia đình, cá nhân và tổ chức thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Đại biểu đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, bổ sung quy định để làm rõ giới hạn và nguyên tắc của sự khác nhau giữa các địa phương. Nếu mỗi địa phương có quy định khác nhau về cách phân loại bao bì, phương thức lưu giữ hoặc tổ chức thu gom thì người dân, doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn sẽ gặp khó khăn.
Đồng thời, cần nghiên cứu bổ sung quy định giao Chính phủ quy định thống nhất về các tiêu chí kỹ thuật và yêu cầu tối thiểu của các nhóm chất thải; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc thành phố quyết định phương thức tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Quy định này sẽ giúp quản lý môi trường sẽ được thực hiện bảo đảm thống nhất giữa các địa phương và trên toàn quốc, đại biểu nhấn mạnh.

