Lãnh đạo EVN: Không nên để mỗi nhà máy điện LNG có một cảng riêng
Muốn phát triển điện khí LNG, Việt Nam cần đồng bộ hạ tầng LNG, hoàn thiện chính sách, thúc đẩy sử dụng chung kho cảng và bảo đảm kết nối toàn bộ chuỗi cung ứng.
Nhiều dự án LNG chậm triển khai, hạ tầng còn phân tán
Phát biểu tại hội thảo “Phát triển hạ tầng LNG tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách” ngày 5/11, ông Nguyễn Văn Phương, Phó Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho biết, thời gian qua, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong phát triển chuỗi LNG.
Kho cảng LNG Thị Vải và các nhà máy điện Nhơn Trạch 3, Nhơn Trạch 4 đi vào vận hành đã tạo cơ sở thực tiễn cho phát triển LNG. Nhiều tập đoàn năng lượng trong và ngoài nước cũng đang xúc tiến đầu tư kho cảng, nguồn điện và thu xếp nguồn cung khí dài hạn.
Tuy nhiên, so với yêu cầu của Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đây mới chỉ là bước khởi đầu, nhiều dự án còn chậm triển khai.
Ông Phương chỉ ra các thách thức lớn trong phát triển hạ tầng LNG. Đó là việc xác định quy mô phát triển trong bối cảnh thị trường biến động và yêu cầu chuyển dịch năng lượng; bảo đảm tính đồng bộ của toàn chuỗi, từ kho cảng, đường ống, nhà máy điện đến lưới truyền tải và thị trường tiêu thụ; huy động vốn và phân bổ rủi ro đối với các dự án có quy mô đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài.
Theo ông, các dự án này đòi hỏi cơ chế, chính sách ổn định, có khả năng dự báo. Do đó, cần lựa chọn mô hình phù hợp, xây dựng khung thể chế minh bạch, ổn định, bảo đảm nguyên tắc lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người sử dụng năng lượng.

Các diễn giả chia sẻ tại hội thảo. Ảnh: Nguyễn Lê
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Huỳnh Quang Hải, Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty Khí Việt Nam (PV GAS) cũng chỉ ra những điểm nghẽn trong phát triển hạ tầng LNG tại Việt Nam.
Theo ông Hải, mô hình đầu tư hiện còn phân tán, chưa tận dụng được hạ tầng dùng chung, thiếu tính kết nối giữa các khu vực và thiếu linh hoạt trong xử lý các phát sinh khi vận hành. Điều này tiềm ẩn nguy cơ phải đốt bỏ khí BOG, rủi ro đầy bồn hoặc thiếu hụt nguồn cung.
Một vấn đề khác là nguồn cung LNG hiện chủ yếu dựa vào các hợp đồng chuyến (Spot), chưa có các hợp đồng thu xếp nguồn cung dài hạn, ổn định. Vì vậy, hoạt động cung ứng phải đối mặt với rủi ro biến động giá và gián đoạn nguồn cung, đặc biệt khi xảy ra biến động địa chính trị.
Đáng chú ý, dù đã có quy định về sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn (Qc) cho nhà máy điện LNG, nhưng theo ông Hải, vẫn chưa có cơ chế bảo đảm huy động sản lượng này. Đây là nguyên nhân khiến doanh nghiệp chưa có cơ sở để triển khai các hợp đồng cung cấp LNG dài hạn.
Trong khi đó, chi phí LNG theo các hợp đồng ngắn hạn biến động mạnh theo giá quốc tế, chi phí vận tải và tỷ giá, dẫn đến rủi ro tăng giá khí LNG đầu vào cho nhà máy điện.
Cần kho cảng LNG trung tâm, đồng bộ cơ chế giá và hợp đồng
Từ những điểm nghẽn trên, ông Huỳnh Quang Hải kiến nghị đầu tư các kho cảng LNG trung tâm cùng hệ thống đường ống trục kết nối giữa các kho cảng và tới nhà máy điện, hộ tiêu thụ khác.
Theo ông, việc này sẽ góp phần hình thành hạ tầng kỹ thuật quốc gia về điện khí LNG và các trung tâm năng lượng - công nghiệp sinh thái, phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 70-NQ/TW.
Về cơ chế, chính sách, ông đề xuất bổ sung quy định bảo đảm huy động sản lượng Qc, tạo cơ sở để doanh nghiệp thu xếp nguồn cung LNG theo các hợp đồng dài hạn, ổn định, liên tục với giá thành cạnh tranh. Đồng thời, cần xây dựng chiến lược đa dạng hóa nguồn cung LNG thông qua các hợp đồng dài hạn, bảo đảm tính liên tục, ổn định và an ninh năng lượng quốc gia khi xảy ra biến động địa chính trị.
Cùng quan điểm về yêu cầu đồng bộ hạ tầng, ông Nguyễn Tài Anh, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho rằng có 3 yếu tố quan trọng để huy động hiệu quả các dự án LNG và bảo đảm vận hành hệ thống điện.
Thứ nhất, các dự án LNG phải phù hợp với nhu cầu của hệ thống điện về công suất, vị trí và quy mô, đồng thời có hệ thống lưới điện đồng bộ để giải tỏa công suất.
Theo ông Tài Anh, trong hệ thống điện, mỗi loại hình nguồn điện có chức năng khác nhau. Điện khí LNG là một trong những nguồn điện cần thiết để đáp ứng yêu cầu vận hành của hệ thống.
Việc phát triển nguồn điện LNG cần được đặt trong tổng thể cơ cấu nguồn điện, bảo đảm phù hợp với nhu cầu của hệ thống. Những nội dung này đã được Viện Năng lượng tính toán trong quá trình xây dựng Quy hoạch điện VIII.
Thứ hai, phải bảo đảm tính đồng bộ của toàn bộ chuỗi cung ứng LNG, từ nguồn nhiên liệu, kho cảng LNG, hệ thống tái hóa khí, đường ống dẫn khí đến các nhà máy điện.
Ông Tài Anh cho rằng không nên để mỗi nhà máy điện phải đầu tư một cảng nhập LNG riêng, bởi chi phí đầu tư rất lớn, có thể lên tới hàng tỷ USD. Thay vào đó, cần tính đến lợi thế kinh tế theo quy mô, yêu cầu an ninh, an toàn năng lượng và khả năng kết nối giữa các công trình trong toàn hệ thống.
Theo lãnh đạo EVN, quy hoạch khí và năng lượng cũng cần được xây dựng đồng bộ, xác định quy mô, vị trí các kho cảng LNG sao cho hiệu quả kinh tế nhất và bảo đảm khả năng kết nối với hệ thống điện.
Thứ ba, cần đồng bộ cơ chế giá điện, hợp đồng cung cấp khí và hợp đồng mua bán điện (PPA) với các quy định của thị trường điện.
Ông Tài Anh cho biết EVN, PVN, PV GAS và các đơn vị liên quan đã có sự phối hợp tốt dưới sự chỉ đạo của Bộ Công Thương và Chính phủ. Tuy nhiên, mỗi đơn vị, mỗi ngành đều có đặc thù riêng; hợp đồng PPA và hợp đồng mua bán khí cũng có những thông lệ quốc tế và đặc thù khác nhau.
Việc thấu hiểu những đặc thù này, tìm ra giải pháp xử lý phù hợp là điều kiện quan trọng để xây dựng phương án tối ưu.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Việt Sơn cũng cho rằng phát triển hạ tầng LNG cần gắn với quy hoạch và nhu cầu tiêu thụ thực tế, xác định quy mô, địa điểm và phân kỳ đầu tư phù hợp với tiến độ các nhà máy điện cũng như nhu cầu công nghiệp tại từng khu vực.
Bên cạnh đó, cần tăng cường tính đồng bộ giữa thị trường khí và thị trường điện. Các hợp đồng cung cấp LNG, dịch vụ hạ tầng và mua bán điện phải phù hợp về khối lượng, thời hạn và tiến độ. Cơ chế phân bổ rủi ro về giá nhiên liệu, tỷ giá, nghĩa vụ bao tiêu và huy động điện cũng cần được thiết kế hợp lý, vừa tạo điều kiện thu xếp vốn cho dự án, vừa kiểm soát tác động đến chi phí cung ứng điện và khả năng chi trả của nền kinh tế.
Về nguồn cung, ông Sơn đề xuất kết hợp hợp lý giữa hợp đồng dài hạn và mua giao ngay, lựa chọn đối tác, điều kiện thương mại trên cơ sở tổng chi phí, độ tin cậy và tính linh hoạt. Đồng thời, cần tăng cường dự báo và xây dựng phương án ứng phó khi nguồn cung bị gián đoạn.
Thứ trưởng Nguyễn Việt Sơn cho hay Bộ Công Thương đang hoàn thiện thể chế để thúc đẩy phát triển lĩnh vực LNG. Dự kiến, kỳ họp Quốc hội khóa XVI lần này sẽ thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực. Bộ Công Thương cũng đang hoàn thiện, cập nhật Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, dự kiến hoàn thành trong tháng 11/2026.

