Lao động tự do ngoài trời đối mặt nhiều rủi ro sức khỏe do biến đổi khí hậu

Lao động tự do làm việc ngoài trời đang chịu mức phơi nhiễm cao trước nắng nóng, mưa lớn và nhiều yếu tố nguy cơ khác, trong khi hệ thống chính sách hiện hành vẫn còn khoảng trống về bảo vệ, bảo đảm an sinh cho nhóm lao động dễ bị tổn thương này.

Sức khỏe bị ảnh hưởng

Ngày 14/8, Tổng hội Y học Việt Nam phối hợp với Viện Phát triển Sức khỏe Cộng đồng Ánh sáng (Viện LIGHT) và Viện Y học ứng dụng Việt Nam đã tổ chức hội thảo báo cáo nghiên cứu "Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với sức khỏe người lao động tự do làm việc ngoài trời tại các thành phố lớn ở Việt Nam".

GS.TS Nguyễn Thị Xuyên, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế cho rằng, tại các đô thị Việt Nam, lao động tự do làm việc ngoài trời hiện diện trong nhiều hoạt động kinh tế và dịch vụ thiết yếu: Bán hàng rong, bán vé số, xe ôm, giao hàng, bốc vác, vận chuyển, xây dựng... Công việc của họ thường gắn với thời gian làm việc dài, thu nhập không ổn định và khả năng tiếp cận các cơ chế bảo vệ về sức khỏe nghề nghiệp, an toàn lao động và an sinh xã hội còn hạn chế.

Quang cảnh hội thảo.

Quang cảnh hội thảo.

Bà Nguyễn Thu Giang, Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện LIGHT cho biết: Khảo sát chuyên sâu 1.208 lao động tự do ngoài trời tại Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ cho thấy 95,4% người được khảo sát thường xuyên tiếp xúc với nắng nóng, 71% tiếp xúc với mưa lớn, trong khi thời gian làm việc trung bình lên tới 55,3 giờ/tuần.

Đáng chú ý, 68,5% người tham gia khảo sát gặp ít nhất một triệu chứng cơ, xương, khớp; 32,8% có biểu hiện lo âu từ mức nhẹ đến rất nặng và 17,8% có biểu hiện căng thẳng từ mức nhẹ đến rất nặng.

Theo bà Nguyễn Thu Giang, vấn đề không chỉ nằm ở biến đổi khí hậu mà còn ở việc điều kiện lao động thay đổi, làm gia tăng rủi ro sức khỏe và sinh kế đối với các nhóm như bán hàng rong, vé số, xe ôm, xe công nghệ, bốc vác, vận chuyển và xây dựng.

Còn TS.BS. Trương Hồng Sơn cũng chỉ ra rằng, Việt Nam đang đối mặt với gia tăng nhiệt độ, thời tiết cực đoan, ô nhiễm không khí, ngập lụt và xâm nhập mặn; trong khi người lao động ngoài trời có mức phơi nhiễm trực tiếp và kéo dài, khiến nguy cơ khí hậu chuyển hóa thành nguy cơ sức khỏe nghề nghiệp và sinh kế. Các yếu tố nguy cơ do biến đổi khí hậu hầu như vắng bóng trong khung chính sách dành cho lao động ngoài trời.

Bà Nguyễn Thu Giang trình bày quá trình và kết quả nghiên cứu.

Bà Nguyễn Thu Giang trình bày quá trình và kết quả nghiên cứu.

TS.BS Trương Hồng Sơn nhận định, chính sách lao động chủ yếu tập trung vào những nguy cơ nghề nghiệp truyền thống; trong khi ngành Y tế tiếp cận ở mức khái quát, chưa có biện pháp chuyên biệt cho lao động tự do ngoài trời.

Bà Nguyễn Thu Giang cho rằng, Việt Nam không thiếu chính sách nhưng thiếu sự kết nối giữa thích ứng biến đổi khí hậu, y tế, an toàn vệ sinh lao động, việc làm và an sinh xã hội. Qua rà soát 45 văn bản, chưa có văn bản nào tích hợp đồng thời ba yếu tố thích ứng biến đổi khí hậu, bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp và an sinh xã hội cho lao động tự do ngoài trời.

Khoảng trống an sinh cần được đặc biệt quan tâm

Theo TS.BS. Trương Hồng Sơn, hệ thống an sinh hiện tại chưa bao phủ hiệu quả khu vực lao động tự do, trong khi đây là nhóm chiếm số đông và dễ bị tổn thương trước các cú sốc khí hậu. Người lao động ngoài trời có thể phải đối mặt đồng thời với rủi ro về sức khỏe và tài chính. Sự chênh lệch rất lớn về BHXH: Tỷ lệ lao động phi chính thức có BHXH bắt buộc chỉ 0,2%, trong khi tỷ lệ ở lao động chính thức là 81%.

Với lao động trên nền tảng như shipper, grab... nhóm này thường được coi là “nhà thầu độc lập”, qua đó nền tảng có thể tránh các nghĩa vụ an sinh. Trong khi đó, thu nhập bấp bênh khiến việc tham gia BHXH tự nguyện trở nên khó khả thi. Hiện nay, chỉ 2,2% lao động tham gia BHXH tự nguyện, trong khi 62,6% mong muốn được hỗ trợ về BHXH.

TS.BS. Trương Hồng Sơn thông tin kết quả khảo sát.

TS.BS. Trương Hồng Sơn thông tin kết quả khảo sát.

Từ các kết quả trên, nhóm nghiên cứu đề xuất xác định lao động tự do ngoài trời là nhóm dễ bị tổn thương, cần được ưu tiên trong y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe ban đầu và sức khỏe nghề nghiệp; đồng thời xây dựng hướng dẫn bảo vệ sức khỏe trước nắng nóng, ô nhiễm, mưa bão và ngập lụt.

Một giải pháp được đề xuất là thí điểm “Trạm y tế thích ứng BĐKH và thân thiện với lao động tự do ngoài trời”, cung cấp truyền thông, sơ cứu, tư vấn, khám lưu động, kết nối BHYT/BHXH và chuyển tuyến.

TS.BS. Trương Hồng Sơn nhấn mạnh sự cần thiết phải cải thiện dữ liệu. Hiện còn thiếu dữ liệu toàn diện về lao động phi chính thức, dẫn tới khó định lượng nguy cơ, khó thiết kế can thiệp và khó giám sát tác động của chính sách.

Theo nhóm nghiên cứu, cần xây dựng bộ chỉ số tối thiểu liên ngành, kết nối dữ liệu về phơi nhiễm, sức khỏe, tai nạn, thu nhập, BHYT/BHXH và khả năng thích ứng. Khi dữ liệu còn phân tán giữa các ngành, rất khó xác định ai đang phơi nhiễm, sức khỏe bị ảnh hưởng ra sao và họ được bảo vệ đến đâu.

Việc chuyển từ cách tiếp cận chính sách phân mảnh sang phối hợp liên ngành giữa khí hậu, y tế, lao động và an sinh xã hội có thể bảo đảm những người lao động dễ bị tổn thương không bị bỏ lại phía sau trong quá trình thích ứng với biến đổi khí hậu.

Bài, ảnh: XM/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/xa-hoi/lao-dong-tu-do-ngoai-troi-doi-mat-nhieu-rui-ro-suc-khoe-do-bien-doi-khi-hau-20260814105221456.htm