Lễ hội Cầu ngư Vạn Đầm Xương Lý: Hơn hai thế kỷ giữ hồn làng biển

Lễ hội Cầu ngư Vạn Đầm Xương Lý (Gia Lai) không chỉ là một nghi lễ tín ngưỡng, mà còn là mạch nguồn văn hóa bền bỉ của cư dân vùng biển.

Lễ hội Cầu ngư Vạn Đầm Xương Lý được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Lễ hội Cầu ngư Vạn Đầm Xương Lý được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Hơn 200 năm tồn tại, Lễ hội Cầu ngư Vạn Đầm Xương Lý (Quy Nhơn Đông, Gia Lai) không chỉ là một nghi lễ tín ngưỡng, mà còn là mạch nguồn văn hóa bền bỉ của cư dân vùng biển. Trong nhịp sóng mặn mòi, lễ hội lưu giữ ký ức làng chài, gửi gắm niềm tin vào thần Nam Hải, cùng khát vọng bình yên, no ấm cho mỗi chuyến ra khơi.

Nơi niềm tin neo lại giữa biển khơi

Trong làn sương sớm còn bảng lảng trên vùng biển Xương Lý, tiếng trống lễ hội vọng ra từ Lăng Ông Nam Hải dưới chân núi Đơn, ngân dài như lời gọi quen thuộc của làng chài mỗi độ xuân về. Khi gió bấc còn se lạnh, người dân nơi đây tạm gác lại nhịp mưu sinh thường nhật, cùng hướng về mùa lễ lớn nhất trong năm, từ mùng 9 đến 11 tháng Giêng.

Theo các bậc cao niên, Lễ hội Cầu ngư Vạn Đầm Xương Lý đã tồn tại hơn hai thế kỷ, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng cư dân ven biển. Không chỉ là sinh hoạt văn hóa, lễ hội còn là ký ức, là “hồn vía” của làng chài, được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ.

Ngược dòng thời gian, lễ hội ra đời cùng sự hình thành của Trường Lăng – lăng Ông đầu tiên của người Việt tại vùng Quy Nhơn vào đầu triều Nguyễn. Tư liệu địa phương cho biết, Trường Lăng được lập muộn nhất vào năm 1815, cũng là thời điểm lễ hội cầu ngư bắt đầu được tổ chức.

Đến năm 1839, khi làng chài Xương Lý (dân gian gọi là Vũng Nồm) được lập địa bạ chính thức, cư dân đã chọn triền núi Đơn để tái thiết Lăng Ông Nam Hải. Từ đây, những bộ hài cốt cá Ông được đưa về an táng, nghi thức nghinh thần được tổ chức trang trọng, đánh dấu bước định hình rõ nét đời sống tín ngưỡng của cư dân biển.

Với ngư dân, cá Ông – loài cá voi, cá heo hay cá nhà táng – không chỉ là sinh vật của đại dương, mà còn là vị thần che chở. Họ gọi bằng những cái tên gần gũi như ông Nam Hải, ông Khơi, ông Lớn, ông Cậu… Những câu chuyện về cá Ông cứu người giữa sóng dữ được truyền miệng qua nhiều thế hệ, trở thành niềm tin bền chặt.

Người đi biển kể rằng, khi gặp bão lớn, cá Ông thường nổi lên, áp lưng vào mạn thuyền để giữ thăng bằng; khi có người rơi xuống nước, cá Ông dùng thân mình dìu vào bờ. Bởi vậy, mỗi khi cá Ông dạt vào bờ, người dân đều tổ chức an táng trang trọng, lập mộ và thờ phụng lâu dài. Tín ngưỡng thờ cá Ông từ đó trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cư dân biển.

Lăng Ông Nam Hải tại núi Đơn không chỉ là nơi thờ tự, mà còn là chốn hội tụ tâm linh, nơi người dân gửi gắm niềm tin trước mỗi chuyến ra khơi. Trong tâm thức ngư dân, đó là “cột mốc tinh thần” giữa trùng khơi nhiều biến động.

Đoàn tàu cá Nhơn Lý thực hiện nghi thức Cung nghinh Thủy Lục.

Đoàn tàu cá Nhơn Lý thực hiện nghi thức Cung nghinh Thủy Lục.

Ký ức nghề biển

Cụ Dương Văn Thơm (74 tuổi, thôn Lý Chánh) cho biết, lễ hội được tổ chức hằng năm theo nghi thức cổ truyền, đầy đủ cả phần lễ và phần hội. Mỗi nghi thức đều mang ý nghĩa riêng, tái hiện sinh động đời sống lao động của ngư dân trên biển.

Mở đầu là lễ Cung nghinh Thủy Lục - nghi thức rước thần linh từ biển vào lăng, thể hiện sự gắn kết giữa con người với biển cả. Tiếp đó là lễ Tế thần trang nghiêm, nơi người dân dâng lễ vật, bày tỏ lòng thành kính và cầu mong một năm mưa thuận gió hòa, biển yên sóng lặng.

Điểm nhấn của lễ hội là nghi thức Hầu Thần của Đội Bả Trạo. Trong tiếng hô nhịp nhàng, những người đàn ông tay cầm mái chèo thực hiện các động tác chèo chống, xoay trở, tái hiện cảnh vượt sóng ra khơi. Từng động tác, câu hát mang theo nhịp điệu của biển, của nghề và những chuyến đi dài ngày trên sóng nước.

“Đó không chỉ là nghi lễ, mà là ký ức sống động về nghề biển. Từng động tác, lời hát đều gắn với cuộc mưu sinh của ngư dân”, cụ Thơm chia sẻ.

Sau phần lễ trang nghiêm là phần hội rộn ràng với nhiều hoạt động dân gian như bả trạo, hát bội, bài chòi, chèo thuyền, bơi thúng… Những trò chơi tưởng chừng giản dị nhưng phản ánh rõ nét sự khéo léo, dẻo dai và tinh thần đoàn kết của cư dân biển.

Trong không gian ấy, lễ hội không chỉ là một sự kiện, mà trở thành nơi giao thoa giữa ký ức và hiện tại: Người già tìm lại quá khứ, người trẻ hiểu thêm về cội nguồn, còn du khách có dịp chạm vào lớp trầm tích văn hóa đặc sắc của vùng biển.

Ở làng chài Xương Lý, chánh đầm được xem là “xương sống” của cộng đồng, không chỉ tổ chức lễ hội, mà còn duy trì kỷ cương, xây dựng hương ước, điều hòa các hoạt động nghề biển.

Ông Nguyễn Kim Hương, Chánh đầm Xương Lý, cho biết lễ hội là dịp để ngư dân dâng lễ vật, cầu mong bình an, đồng thời củng cố tinh thần đoàn kết cộng đồng. “Sau lễ hội, ai cũng thêm vững tin để vươn khơi, bám biển”, ông Hương nói.

Không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng, lễ hội còn chứa đựng giá trị kinh tế – xã hội sâu sắc. Trong bối cảnh phát triển du lịch biển, những giá trị văn hóa truyền thống như lễ hội cầu ngư đang dần trở thành “tài nguyên mềm”, góp phần định hình bản sắc riêng cho địa phương.

Theo ông Bùi Duy Ninh - Phó Chủ tịch UBND phường Quy Nhơn Đông, việc lễ hội được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vừa là niềm tự hào, vừa đặt ra yêu cầu bảo tồn lâu dài. “Bảo tồn lễ hội không chỉ là giữ một nghi thức, mà là giữ cả không gian văn hóa biển, từ tín ngưỡng, nghệ thuật đến lối sống của cư dân”, ông Ninh nhấn mạnh.

Song song với phần lễ, địa phương tổ chức nhiều hoạt động văn hóa – thể thao như bài chòi, bóng đá Cúp Lăng Ông, kéo co, lắc thúng… tạo không khí sôi nổi, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia.

Những bộ hài cốt cá Ông được đưa về an táng, nghi thức nghinh thần được tổ chức trang trọng.

Những bộ hài cốt cá Ông được đưa về an táng, nghi thức nghinh thần được tổ chức trang trọng.

Gìn giữ cho mai sau

Từ một làng chài nhỏ, Nhơn Lý – tên gọi chung của các thôn Lý Hưng, Lý Lương, Lý Chánh, Lý Hòa (phường Quy Nhơn Đông) – nay đã trở thành điểm đến du lịch cộng đồng hấp dẫn. Du khách đến đây không chỉ để ngắm biển, mà còn trải nghiệm đời sống ngư dân: Theo thuyền ra khơi, câu mực đêm, kéo lưới và thưởng thức hải sản tươi.

Không gian làng chài cũng được làm mới bằng những bức bích họa đầy sắc màu, biến các con hẻm nhỏ thành không gian nghệ thuật, kể những câu chuyện về biển và con người nơi đây. Nhơn Lý đồng thời là cửa ngõ dẫn đến các thắng cảnh nổi tiếng như Eo Gió, Kỳ Co – những điểm đến góp phần định vị thương hiệu du lịch biển của địa phương.

Theo UBND tỉnh Gia Lai, khu vực Nhơn Lý sở hữu nhiều giá trị văn hóa đặc sắc như lễ hội Cầu ngư, Lăng Ông Nam Hải, hệ thống giếng cổ Chăm… Đây là nền tảng quan trọng để phát triển du lịch bền vững.

Đáng chú ý, tại Lăng Ông Nam Hải hiện còn lưu giữ nhiều đạo sắc phong triều Nguyễn, từ thời Minh Mạng đến Khải Định, ghi nhận công lao của thần Nam Hải và cư dân làng chài. Bên cạnh đó, các làng Lý Chánh, Lý Hưng, Lý Lương vẫn còn những giếng cổ do người Chăm xây dựng, nước trong, không cạn, mang giá trị cả về lịch sử lẫn sinh hoạt.

Tuy nhiên, việc khai thác các giá trị văn hóa này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Trước thực tế đó, tỉnh Gia Lai định hướng phát triển mô hình cảng cá gắn với du lịch, xây dựng các sản phẩm trải nghiệm đặc trưng như tham gia lễ hội truyền thống, khám phá không gian làng chài, trải nghiệm đời sống ngư dân.

Bà Nguyễn Thị Thanh Lịch - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, yêu cầu các sở, ngành rà soát, điều chỉnh quy hoạch khu vực Nhơn Lý, Nhơn Hải phù hợp với định hướng phát triển du lịch, đồng thời xây dựng các sản phẩm đặc thù dựa trên nền tảng văn hóa làng chài. Sở Nông nghiệp và Môi trường được giao nghiên cứu phát triển mô hình cảng cá kết hợp du lịch trong dài hạn.

Ông Trần Việt Quang - Chủ tịch UBND phường Quy Nhơn Đông, cho biết địa phương đang triển khai xây dựng mô hình du lịch cộng đồng gắn với làng cá, làng nghề truyền thống, đồng thời rà soát, sắp xếp hoạt động tại cảng cá, bảo đảm vệ sinh môi trường và mỹ quan.

Người dân chuẩn bị cho Lễ hội Cầu ngư Vạn Đầm Xương Lý.

Người dân chuẩn bị cho Lễ hội Cầu ngư Vạn Đầm Xương Lý.

Lễ Cung nghinh Thủy Lục – nghi thức rước thần linh từ biển vào lăng, thể hiện sự gắn kết giữa con người với biển cả.

Lễ Cung nghinh Thủy Lục – nghi thức rước thần linh từ biển vào lăng, thể hiện sự gắn kết giữa con người với biển cả.

“Hiện nay, lượng khách đến Nhơn Lý khá đông, nhưng việc khai thác vẫn còn mang tính tự phát, chưa tương xứng với tiềm năng. Chúng tôi sẽ phối hợp với các ngành triển khai đồng bộ giải pháp, từng bước đưa cảng cá Nhơn Lý trở thành điểm đến đặc sắc”, ông Quang cho hay.

Giữa nhịp phát triển ấy, Lễ hội Cầu ngư Vạn Đầm Xương Lý vẫn giữ vai trò như một “mạch ngầm văn hóa”. Không ồn ào, không phô diễn, nhưng bền bỉ nuôi dưỡng niềm tin và bản sắc của cư dân biển.

Hơn hai thế kỷ trôi qua, những con sóng vẫn vỗ bờ như thuở ban đầu, và trong nhịp sóng ấy, lễ hội vẫn được gìn giữ như một lời nguyện ước gửi ra biển lớn – cho những chuyến ra khơi bình yên, cho đời sống no ấm và cho ký ức làng chài còn mãi với thời gian.

Lễ hội Cầu ngư Vạn Đầm Xương Lý đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 3994/QĐ-BVHTTDL ngày 10/12/2024.

Bài, ảnh: Dung Nguyễn

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/le-hoi-cau-ngu-van-dam-xuong-ly-hon-hai-the-ky-giu-hon-lang-bien-post775311.html