Lên thăm Mường Đèn

Nằm trong một thung lũng được bao quanh bởi các ngọn núi, Mường Đèn là địa bàn cư trú của số đông đồng bào dân tộc Mường, bên cạnh đó là người Thái và Kinh. Trên đất Mường Đèn có dấu tích của người nguyên thủy sinh sống cách ngày nay hàng vạn năm.

Hồ Duồng Cốc (hồ Thạch Minh) dưới chân núi Đèn.

Hồ Duồng Cốc (hồ Thạch Minh) dưới chân núi Đèn.

Là một mường nhỏ được chia tách từ Mường Tiền, Mường Đèn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thuộc xã Kim Đèn, tổng Điền Lư. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Mường Đèn nằm trong xã Hồ Điền. Đến năm 1964, xã Hồ Điền chia thành các xã nhỏ, Mường Đèn thuộc về xã Điền Hạ, huyện Bá Thước cũ. Và hiện nay, vùng đất Mường Đèn cổ xưa thuộc xã Điền Quang.

Mường Đèn được bao quanh bởi các dãy núi, như núi Sơn, núi Mộng, núi Đèn ở phía Tây Nam. Ở núi Đèn, “bàn tay” tạo hóa đã tạo nên nhiều thắng cảnh đẹp như hang Bụt, hang Nước; phía Tây Bắc là núi Trầu - nước từ núi Trầu chảy ra đã cung cấp nước sản xuất và sinh hoạt cho nhiều thôn, làng trong vùng; phía Đông Nam là núi Nạc. Theo sách Địa chí huyện Bá Thước trước đây: "Dưới chân núi Nạc, năm 1961 Nhà nước đã khảo sát xây dựng và đắp hồ giữ nước. Đây là công trình thủy lợi lớn cung cấp nước tưới tiêu cho các xã Cẩm Liên, Cẩm Thành, Cẩm Bình huyện Cẩm Thủy. Hồ được đặt tên là Duồng Cốc với diện tích mặt nước là 50ha. Hồ Duồng Cốc không chỉ là nguồn lợi đầy tiềm năng cho sản xuất nông nghiệp mà còn là một danh thắng đẹp nổi tiếng của xã Điền Hạ nói riêng, huyện Bá Thước nói chung. Ở giữa lòng hồ còn có các đảo, gò đất, núi đá tự nhiên trông giống như một bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp được thiên nhiên ban tặng... Hồ được mệnh danh là “lá phổi xanh”, “Hạ Long trên cao nguyên” của xã Điền Hạ”.

Không có sông nhưng bởi nhiều núi, khe suối, trải qua, mưa nắng và quá trình “kiến tạo” hàng vạn năm thời gian đã tạo nên cho vùng đất Mường Đèn nhiều hồ nước. Ngoài hồ Duồng Cốc (hồ Thạch Minh) còn có các hồ lớn nhỏ, như hồ Đèn, hồ Mùn, hồ Vạc, hồ Mẹ, hồ Sèo...

Trên đất Mường Đèn, những năm 20 của thế kỷ XX, các nhà khảo cổ người Pháp trong quá trình khai quật ở các hang núi đã phát hiện thấy nhiều hiện vật đồ đá cùng với các mảnh xương người... điều này cho thấy, từ hàng vạn năm về trước, Mường Đèn có thể đã là nơi cư trú của người nguyên thủy sinh sống thời đồ đá.

Và từ hàng trăm năm trước, những người Mường đầu tiên đã đến đất Mường Đèn sinh sống lập nên làng bản. Người Mường xưa khi đến đây tụ cư thuộc nhóm Mường Trong (tức người Mường Thanh Hóa). Về sau có thêm người Thái ở đất “Mường Khoòng” cùng đến đây lập nghiệp. Bên cạnh đó còn có một bộ phận người Kinh dưới miền xuôi cũng lên đất Mường Đèn sinh sống. Song cho đến nay, trên đất Mường Đèn, người Mường vẫn chiếm số đông. Những dòng họ lớn và sinh sống lâu đời ở Mường Đèn có thể kể đến, như: họ Phạm, Trương, Bùi, Hà, Lê, Nguyễn...

Trên đất Mường Đèn có nhiều làng bản, như làng Né, làng Sèo, làng Duồng, làng Xăm, làng Nan, làng Đớn... Mỗi làng (thôn) lại có những truyền thuyết, chuyện kể về làng. Như sự tích “vua Xăm, chúa Sèo” kể về cậu bé mồ côi cha mẹ, ở với người bác ruột. Hàng ngày, cậu bé đi chăn trâu cùng lũ trẻ trong làng. Nhờ sự thông minh, lanh lợi, cậu bày nhiều trò chơi, được bọn trẻ chăn trâu tán thưởng. Có lần, nhờ sự nhanh trí, cậu đã “bày mưu” để vật ngã cả con trâu lớn, vì thế được lũ trẻ tôn làm “vua mường”. Nhưng rồi, cũng vì tính hào sảng, “vua mường” đã giết trâu của bác để đãi đám trẻ chăn trâu. Khi phát hiện ra, “vua mường” bị bác đánh đuổi, cậu được rồng vàng bất ngờ xuất hiện cứu nguy và bay lên trời...

So với các làng trong vùng, làng (thôn) Đèn là làng lớn, đông dân của đất Mường Đèn xưa. Tên gọi làng Đèn được cho là bắt nguồn từ tên vùng đất Mường Đèn - gắn liền với truyền thuyết “Cây đèn Bà Chúa”.

Những thế hệ người Mường trên đất Mường Đèn luôn ý thức về việc gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống.

Những thế hệ người Mường trên đất Mường Đèn luôn ý thức về việc gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống.

Chuyện kể rằng, lâu lắm rồi, người già trong bản cũng không còn nhớ đã bao nhiêu thế kỷ về trước, ở vùng đất này có người con gái rất đỗi xinh đẹp. Khi cô đến tuổi cập kê thì có vị tướng trên đường đánh giặc qua đây, trai tài gái sắc gặp nhau và họ đã nên duyên vợ chồng. Tuy nhiên, vợ chồng son ở bên nhau chưa được bao lâu thì vị tướng phải tiếp tục ra trận đánh giặc, để lại người vợ trẻ nơi quê nhà với bao nỗi thương nhớ. Trước khi ra trận, đôi vợ chồng hẹn ước, đêm đêm người vợ sẽ bí mật lên ngọn núi cao đốt đèn, vị tướng nơi chiến trận nhìn về hướng đó, thấy đèn sáng để thêm vững tin chiến đấu. Tin thắng trận mỗi ngày được báo về hậu phương, dân làng cùng chung vui. Dẫu vậy, một ngày “bí mật” của họ bị kẻ địch phát hiện, chúng lập kế khiến người vợ hốt hoảng tắt đèn. Bấy giờ vị tướng nơi chiến trận không thấy đèn sáng, lo lắng cho người vợ nơi hậu phương khiến ông bị giặc phục kích và tử trận.

Trước sự hy sinh của vị tướng, dân làng trong lúc nóng giận đã cho rằng vì người vợ tắt đèn mới dẫn đến hậu quả nên đã xua đuổi bà. Vì đau buồn, người góa phụ đã lên núi cao - nơi trước đó hằng đêm bà vẫn thắp đèn để dựng lều sinh sống và mất ở đó. Qua thời gian, hiểu ra mọi chuyện, dân làng thương cảm cho số phận người phụ nữ xinh đẹp mà bạc phận. Để tưởng nhớ, người dân đã đặt tên cho làng là làng Đèn; ngọn núi nơi người vợ hằng đêm thắp đèn là núi Đèn; nơi đốt đèn là gò Đèn. Ngày nay, trên đất làng Đèn - nơi núi Đèn vẫn còn dấu tích cây đèn thần bằng đá, gắn liền với câu chuyện kể lưu truyền, nhắc nhớ qua những thế hệ.

Lại cũng có cách kể khác về truyền thuyết “Cây đèn Bà Chúa”. Rằng nơi đây có một “Bà Chúa” với phép thần thông, bà đã dựng nên cây đèn bằng đá cao khổng lồ. Đêm đêm Bà Chúa thắp đèn để nghĩa quân đánh giặc. Đó cũng là nguồn gốc của tên gọi Mường Đèn... Và dù có những cách “kể” khác nhau song tựu chung, truyền thuyết vẫn ánh lên ý nghĩa sâu sắc, rằng phía sau những người nam nhân ra trận đánh giặc, luôn có hậu phương nơi quê nhà dõi theo, chờ mong và ủng hộ.

Làng Đèn nằm giữa hồ Duồng Cốc và hồ Đèn nên đất đai canh tác phì nhiêu, màu mỡ, thuận lợi cho công việc trồng trọt và phát triển kinh tế. Với vẻ đẹp thiên tạo, hang Nước, hang Bụt trong núi Đèn đã được xếp hạng di tích danh thắng cấp tỉnh. Ông Phạm Văn Hồng, Bí thư chi bộ thôn (làng) Đèn, chia sẻ: “Thôn Đèn có gần 1.200 khẩu, trong đó đến 98% là người Mường. Với tinh thần đoàn kết, cùng kinh nghiệm sản xuất, những tập tục, nét văn hóa được gìn giữ, trao truyền, những thế hệ người Mường ở làng Đèn đã cùng nhau vượt lên khó khăn, nỗ lực lao động để cuộc sống từng ngày no đủ, khấm khá hơn. Hằng năm, vào ngày mùng 7 tháng giêng, dân làng lại theo chân nhau về núi Đèn, đến hang Nước, hang Bụt dâng hương gửi gắm ước vọng được thần linh phù trợ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, đó cũng là một trong những nét đẹp trong đời sống văn hóa - tín ngưỡng của người dân sống trên đất cổ Mường Đèn".

(Bài viết có tham khảo, sử dụng nội dung trong sách Địa chí huyện Bá Thước và một số tài liệu lưu giữ tại địa phương).

Bài và ảnh: Khánh Lộc

Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/len-tham-muong-den-41126.htm