Lò phản ứng mới: Tăng nguồn dược chất phóng xạ cho điều trị ung thư
Khoảng 80% dược chất phóng xạ đang được sử dụng tại các bệnh viện trong cả nước do lò phản ứng Đà Lạt cung cấp. Với lò phản ứng nghiên cứu mới tại Đồng Nai có công suất gấp 30 lần, Việt Nam kỳ vọng nâng năng lực sản xuất dược chất phục vụ chẩn đoán, điều trị ung thư và từng bước cung cấp cho khu vực.

ông Trần Chí Thành, Viện trưởng Năng lượng nguyên tử thông tin tại buổi Họp báo. (Ảnh: MST)
Thêm nguồn dược chất cho điều trị ung thư
Ngày 30/9, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), TS Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (Bộ KH&CN), cho biết ứng dụng năng lượng nguyên tử rõ nét và hiệu quả nhất hiện nay tại Việt Nam là trong y học.
Một trong những ứng dụng người dân có thể cảm nhận trực tiếp là sản xuất dược chất phóng xạ phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh, đặc biệt là ung thư.
Theo TS Trần Chí Thành, lò phản ứng nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt sau khi được khôi phục, nâng cấp và đưa vào vận hành từ năm 1984 với sự giúp đỡ của Liên Xô (cũ) đã hoạt động 42 năm. Dù công suất chỉ 0,5 MW, lò Đà Lạt vẫn được Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đánh giá là một trong những lò phản ứng công suất thấp hoạt động hiệu quả trên thế giới.
Đáng chú ý, lò Đà Lạt hiện cung cấp khoảng 80% lượng dược chất phóng xạ cho các bệnh viện trên toàn quốc, chủ yếu phục vụ chẩn đoán và điều trị ung thư.
Mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 180.000 ca mắc ung thư mới. Khi số người có nhu cầu khám, chẩn đoán và điều trị ngày càng lớn, nhu cầu về các đồng vị phóng xạ sử dụng trong y học cũng tăng theo.
Trong khi đó, năng lực sản xuất dược chất phóng xạ trong nước còn hạn chế và đang phụ thuộc đáng kể vào năng lực của lò phản ứng Đà Lạt.
Theo TS Trần Chí Thành, việc triển khai dự án Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân với lò phản ứng nghiên cứu mới tại Đồng Nai sẽ tạo thêm năng lực nghiên cứu, sản xuất đồng vị phóng xạ và phát triển các ứng dụng kỹ thuật hạt nhân.
“Nhằm mở rộng năng lực phục vụ y tế và khu vực, Việt Nam đang triển khai dự án Lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu mới tại Đồng Nai với công suất gấp 30 lần lò Đà Lạt, hướng tới trở thành trung tâm cung cấp dược chất phóng xạ chẩn đoán và điều trị ung thư cho cả khu vực”, TS Trần Chí Thành cho biết.
Nếu được triển khai theo mục tiêu đặt ra, lò phản ứng mới sẽ tạo thêm nguồn cung dược chất phóng xạ, góp phần đáp ứng nhu cầu của các cơ sở y tế trong nước. Đây cũng là cơ sở để Việt Nam phát triển các sản phẩm phục vụ y học hạt nhân, thay vì chỉ dừng ở việc tiếp nhận và ứng dụng công nghệ.
Từ góc độ đời sống, câu chuyện của ngành hạt nhân vì vậy không chỉ nằm ở những thiết bị lớn hay công nghệ phức tạp, mà liên quan trực tiếp tới khả năng người bệnh được tiếp cận các phương pháp chẩn đoán, điều trị hiện đại.
Không chỉ phục vụ y tế, công nghệ hạt nhân còn được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác. Trong nông nghiệp, công nghệ chiếu xạ đã được đưa vào phục vụ kiểm dịch, góp phần hỗ trợ hoạt động xuất khẩu.
Trong công nghiệp, kỹ thuật hạt nhân được sử dụng để kiểm tra, đánh giá thiết bị, phát hiện những vấn đề có thể xảy ra tại các nhà máy, trong đó có nhà máy lọc dầu và nhà máy nhiệt điện.
Ở lĩnh vực tài nguyên và môi trường, một trong những ứng dụng đã được triển khai là sử dụng đồng vị để nghiên cứu, đánh giá nguồn nước ngầm tại các khu vực Bắc Bộ, miền Trung và Nam Bộ. Công nghệ này cũng được sử dụng để đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước.
Tăng tốc xây dựng đội ngũ 2.000 nhân lực vào năm 2030
Cùng với cơ sở vật chất, một vấn đề khác có ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng vận hành và khai thác các công trình hạt nhân là nhân lực.
Theo lãnh đạo Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, các kỹ thuật hạt nhân được sử dụng khá phổ biến trên thế giới và nhiều kỹ thuật không quá khó để Việt Nam triển khai. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng tại Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
Một trong những nguyên nhân là nguồn nhân lực còn hạn chế. Bên cạnh đó, xã hội chưa nhận thức đầy đủ về các ứng dụng của công nghệ hạt nhân. Khi nhắc đến hạt nhân, nhiều người thường nghĩ đến điện hạt nhân hoặc bom nguyên tử, trong khi công nghệ hạt nhân còn có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống và sản xuất.
TS Trần Chí Thành cho biết Việt Nam đã có nền tảng nhân lực công nghệ hạt nhân được tích lũy qua nhiều năm nghiên cứu, đào tạo, ứng dụng và quản lý. Tuy nhiên, đội ngũ hiện nay cần tiếp tục được bổ sung về số lượng, cơ cấu và năng lực chuyên sâu.
Đối với điện hạt nhân, nhu cầu nhân lực đặc biệt lớn. Theo TS Trần Chí Thành, mỗi nhà máy điện hạt nhân cần khoảng 600-700 người với công nghệ phương Tây hoặc gần 1.000 người với công nghệ của Nga.
Trước đây, Việt Nam từng cử gần 1.000 cán bộ, sinh viên sang Liên bang Nga và Nhật Bản học tập. Tuy nhiên, theo TS Trần Chí Thành, đến nay chỉ khoảng 20% số người được đào tạo quay trở lại và tiếp tục gắn bó với ngành.
Con số này cho thấy bài toán nhân lực không chỉ là đào tạo được bao nhiêu người mà còn là làm thế nào để thu hút, sử dụng và giữ được những người đã được đào tạo trong ngành.
Theo ông Trần Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân (Bộ KH&CN), theo Quyết định 438/QĐ-TTg về Chiến lược phát triển ứng dụng năng lượng nguyên tử, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 xây dựng đội ngũ khoảng 2.000 nhân lực và nâng lên 2.500 nhân lực vào năm 2035.

Ông Trần Quang Tuấn phát biểu tại cuộc họp báo. (Ảnh: MST)
Lực lượng này gồm 4 nhóm trụ cột: quản lý nhà nước, nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ kỹ thuật và đội ngũ trực tiếp vận hành các cơ sở hạt nhân.
Theo ông Trần Quang Tuấn, năng lượng nguyên tử là lĩnh vực công nghệ cao, đòi hỏi kiến thức chuyên sâu và kinh nghiệm thực tiễn. Do đó, tăng cường hợp tác quốc tế, cử cán bộ sang đào tạo tại các quốc gia có nền công nghiệp hạt nhân phát triển là một trong những giải pháp để nhanh chóng bổ sung kinh nghiệm.
Tuy nhiên, Việt Nam cũng cần xây dựng năng lực tự đào tạo trong nước, tránh phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nhân lực được đào tạo ở nước ngoài. Mục tiêu là từng bước hình thành đội ngũ có khả năng nghiên cứu, thiết kế, làm chủ, cải tiến và phát triển công nghệ hạt nhân phù hợp với nhu cầu trong nước.
TS Trần Chí Thành cho rằng thời gian tới cần nghiên cứu mở từ 1-2 khoa Công nghệ hạt nhân tại các trường đại học kỹ thuật hàng đầu ở Hà Nội và TPHCM, với chương trình đào tạo đạt chuẩn quốc tế.
“Quan điểm của Viện là những gì đào tạo được trong nước thì ưu tiên làm trong nước. Chỉ khi gặp các bài toán kỹ thuật quá khó, chúng ta mới cử nhân sự đến làm việc tại các viện nghiên cứu hàng đầu thế giới để tôi luyện thành những chuyên gia đầu ngành”, TS Trần Chí Thành chia sẻ.
Việc chuẩn bị nhân lực vì vậy cần được thực hiện song song với đầu tư cơ sở vật chất. Một lò phản ứng mới, dù có công suất lớn hơn nhiều lần lò Đà Lạt, chỉ có thể phát huy giá trị khi có đội ngũ đủ năng lực vận hành, nghiên cứu và phát triển các sản phẩm phục vụ đời sống.
Theo TS Trần Chí Thành, mục tiêu không chỉ là bổ sung nhân lực cho các dự án trước mắt mà phải từng bước hình thành đội ngũ có khả năng nghiên cứu, thiết kế, làm chủ, cải tiến và phát triển công nghệ hạt nhân phù hợp với nhu cầu của Việt Nam.
Sau khoảng 50 năm xây dựng và phát triển, Việt Nam đã hình thành đội ngũ nhân lực có nền tảng trong lĩnh vực này. Yêu cầu đặt ra hiện nay là vừa phát huy lực lượng hiện có, vừa đào tạo đội ngũ mới, đáp ứng nhu cầu phát triển và mở rộng ứng dụng công nghệ hạt nhân trong giai đoạn mới.
Việc đưa công nghệ hạt nhân vào phục vụ ngày càng rộng rãi các lĩnh vực kinh tế - xã hội, cùng với chuẩn bị nguồn nhân lực tương xứng, là những nhiệm vụ quan trọng để khai thác hiệu quả hơn tiềm năng của lĩnh vực này trong thời gian tới.
Khi lò phản ứng nghiên cứu mới tại Đồng Nai được triển khai, yêu cầu này càng trở nên rõ nét. Cùng với đầu tư thiết bị và cơ sở hạ tầng, việc chủ động đào tạo nhân lực sẽ quyết định khả năng khai thác hiệu quả công trình, phát triển các sản phẩm hạt nhân phục vụ y tế và từng bước nâng cao năng lực làm chủ công nghệ của Việt Nam.



