Khan hiếm nhân lực hạt nhân trong nước

Nhân lực là một trong những vấn đề hàng đầu cần sớm giải quyết để công nghệ hạt nhân được phát triển đúng tiềm năng tại Việt Nam…

Ảnh minh hoạ tạo bởi AI.

Ảnh minh hoạ tạo bởi AI.

Trong khi năng lượng nguyên tử đã và đang được nhiều nước trên thế giới ứng dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, từ y tế, công nghiệp,... đến môi trường, thì Việt Nam dù đã làm chủ được một số kỹ thuật quan trọng, nhưng mức độ ứng dụng để công nghệ này được phát triển đúng tiềm năng vẫn còn nhiều hạn chế. 

Nguyên nhân trước hết xuất phát từ sự thiếu hụt nguồn nhân lực. Sau là khi nhắc đến hạt nhân, đa phần mọi người chỉ nghĩ đến chất nổ, bom nguyên tử, mà chưa biết rằng công nghệ hạt nhân còn có thể phục vụ phát triển hiệu quả rất nhiều ngành và lĩnh vực khác. 

THIẾU NHÂN LỰC PHỤC VỤ NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN VÀ ỨNG DỤNG NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ 

Chỉ trong khoảng 10 phút phát biểu tại họp báo Bộ Khoa học và Công nghệ tháng 9, TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ, đã thẳng thắn chỉ ra những nút thắt trong bài toán phát triển nhân lực hạt nhân của Việt Nam. 

Ông cho hay Kế hoạch quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử đã được ban hành, có đặt ra nhiệm vụ về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, việc triển khai đến nay vẫn chưa thực sự hiệu quả.

Một phần vì thiếu kinh phí. Phần khác do chưa xác định được đầy đủ những nhiệm vụ cụ thể và nhu cầu đối với công nghệ hạt nhân ở các bộ, ngành khác. 

Một nhà máy điện hạt nhân được xác định có thể cần khoảng 1.000 người, trong đó phần lớn là lực lượng vận hành, kỹ thuật và các vị trí hỗ trợ (có thể lên tới 700-800 người). Còn đội ngũ nhân lực cốt lõi có thể khoảng 200-300 người.

TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ

Dù vậy, trong bối cảnh nhân lực phục vụ các ứng dụng năng lượng nguyên tử còn hạn chế, người đứng đầu Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam khẳng định: “Nếu các địa phương, bộ, ngành có nhu cầu đưa kỹ thuật hạt nhân vào phục vụ các lĩnh vực, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và Bộ Khoa học và Công nghệ hoàn toàn có thể tổ chức các khóa đào tạo cho cán bộ để đưa kỹ thuật hạt nhân và công nghệ hạt nhân vào đời sống kinh tế - xã hội”. 

Nhưng việc đào tạo nhân lực phục vụ nhà máy điện hạt nhân lại là vấn đề khác. 

Trong bối cảnh 2 dự án điện hạt nhân là Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 đang được tái khởi động, sau đó, có thể sẽ tiến tới triển khai thêm các công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR), Việt Nam khả năng cao sẽ đối mặt với thách thức về mặt nhân lực. 

Tại phương Tây, mỗi lò hạt nhân, tùy theo công nghệ, có thể cần khoảng 600-700 người vận hành. Đối với công nghệ của Nga, số lượng có thể lên tới gần 1.000 người cho một nhà máy.

Trước đây, Việt Nam đã từng cử gần 100 người sang Nga và Nhật Bản để đào tạo về điện hạt nhân. Tuy nhiên, sau khi trở về, một bộ phận trong số này đã chuyển sang làm việc ở những lĩnh vực khác. Số người quay lại làm việc trong lĩnh vực này hiện có lẽ chỉ còn khoảng 30%, TS. Trần Chí Thành cho hay. 

TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam. Ảnh: MST.

TS. Trần Chí Thành, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam. Ảnh: MST.

Dù vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện vẫn đang triển khai đưa người sang Nga đào tạo. Mỗi năm nước này dành cho Việt Nam khoảng 1.000 suất học bổng trong nhiều lĩnh vực đào tạo đại học, nhưng thực tế, Việt Nam không sử dụng hết số chỉ tiêu này. Riêng lĩnh vực hạt nhân, năm nay Việt Nam chỉ gửi khoảng 10 người.

“Tất nhiên, việc lựa chọn cũng phải có sự chọn lọc, phải chọn được những người có năng lực để đào tạo. Riêng với hạt nhân, đây là lĩnh vực rất khó, liên quan đến nhiều kiến thức về vật lý, hóa học, toán học và các ngành kỹ thuật khác. Vì vậy, không thể đào tạo một cách đại trà”, TS. Trần Chí Thành lý giải.  

Việc thu hút người giỏi vào lĩnh vực hạt nhân được đại diện cơ quan quản lý khẳng định vẫn là một bài toán khó, dù vậy Việt Nam vẫn cần đảm bảo yêu cầu trước tiên là đào tạo đội ngũ kỹ sư đủ khả năng vận hành hệ thống điện hạt nhân.

Ông cho hay một nhà máy điện hạt nhân được xác định có thể cần khoảng 1.000 người, trong đó phần lớn là lực lượng vận hành, kỹ thuật và các vị trí hỗ trợ (có thể lên tới 700-800 người). Còn đội ngũ nhân lực cốt lõi có thể khoảng 200-300 người.

Trước mắt trong nước chưa có chương trình đào tạo về kỹ thuật hạt nhân bài bản như các quốc gia khác. Vì vậy, trong giai đoạn đầu, vẫn phải đưa người đi đào tạo ở nước ngoài.

Nhưng trong vài năm tới, Việt Nam phải tự xây dựng kế hoạch đào tạo hoàn chỉnh. “Cần nghiên cứu mở các chương trình hoặc khoa Nuclear Engineering, tức kỹ thuật hạt nhân, tại một số trường đại học kỹ thuật tốt nhất trong nước. Chỉ cần một hoặc hai cơ sở đào tạo ở miền Bắc và miền Nam là đã rất tốt. Nhưng trước khi triển khai, bắt buộc phải xây dựng được chương trình đào tạo, nền tảng và hệ thống đạt tiêu chuẩn quốc tế”, TS. Trần Chí Thành nhấn mạnh. 

ĐỒNG NAI CÓ THỂ TRỞ THÀNH TRUNG TÂM SẢN XUẤT ĐỒNG VỊ PHÓNG XẠ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ CỦA VIỆT NAM VÀ KHU VỰC 

Thông tin thêm, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam cho biết trong bối cảnh số ca mắc ung thư tại Việt Nam ngày càng tăng, nhu cầu về các sản phẩm phóng xạ phục vụ chẩn đoán và điều trị cũng ngày càng lớn, Viện đang tập trung phát triển lĩnh vực y học hạt nhân, đồng thời từng bước làm chủ công nghệ sản xuất các đồng vị phóng xạ trong nước.

Việt Nam hiện đã có khả năng sản xuất và ứng dụng một số loại đồng vị phóng xạ phục vụ điều trị ung thư, nhưng chủng loại vẫn còn hạn chế, mới chỉ sản xuất được dưới 10 loại đồng vị dùng trong điều trị, trong khi trên thế giới có thể có hàng chục, thậm chí hàng trăm loại.

Để mở rộng năng lực này, Việt Nam đang triển khai dự án xây dựng một lò hạt nhân nghiên cứu mới tại Đồng Nai, với công suất dự kiến cao hơn khoảng 30 lần so với lò Đà Lạt.

Nếu được triển khai đúng kế hoạch, Đồng Nai có thể trở thành trung tâm sản xuất đồng vị phóng xạ phục vụ chẩn đoán và điều trị ung thư không chỉ của Việt Nam mà còn của khu vực. Lò phản ứng mới sẽ có khả năng sản xuất số lượng lớn hơn, đa dạng hơn các loại đồng vị, qua đó tạo nguồn cung ổn định cho thị trường trong nước và mở ra khả năng xuất khẩu sang các nước trong khu vực.

Ngoài y tế, kỹ thuật hạt nhân cũng đang được ứng dụng trong công nghiệp. Việt Nam đã triển khai kỹ thuật kiểm tra không phá hủy bằng bức xạ để đánh giá tình trạng thiết bị tại các nhà máy, chẳng hạn nhà máy lọc dầu, nhà máy nhiệt điện,...

Trong lĩnh vực môi trường, kỹ thuật đồng vị đang được sử dụng để nghiên cứu nguồn nước, đồng thời hỗ trợ đánh giá tình trạng ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước.

Ngô Huyền

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/khan-hiem-nhan-luc-hat-nhan-trong-nuoc.htm