Lỗ thực tế, lãi do khống chế lãi vay thì doanh nghiệp có mất 2 năm ưu đãi thuế không?
Nghị định 20/2025NĐ-CP đã gỡ vướng về khoản vay ngân hàng độc lập từ năm 2024. Vậy hai năm 2022-2023, khi doanh nghiệp thủy điện có thể bị chuyển từ lỗ thành lãi do khống chế lãi vay, ưu đãi thuế sẽ được tính thế nào?
Hỏi:
1. Doanh nghiệp đầu tư dự án nhà máy thuỷ điện bằng vốn tự có và vốn vay ngân hàng công thương (Thế chấp bằng dự án). Doanh nghiệp không vay vốn của bất kỳ bên liên kết hay đối tượng nào khác. Dự án thuộc diện ưu đãi thuế TNDN: Miễn thuế 4 năm, giảm 50% trong 9 năm tiếp theo. Năm 2022 và năm 2023 dự án bắt đầu phát điện thương mại, phát sinh doanh thu. Do chi phí lãi vay lớn, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế của hai năm này bị lỗ.
2. Vướng mắc về áp dụng pháp luật: Theo điểm d khoản 2 Điều 5 Nghị định 132/2020/NĐ-CP, khoản vay ngân hàng khiến doanh nghiệp rơi vào diện có quan hệ liên kết. Nếu tính toán khống chế lãi vay thuần ở mức 30% EBITDA cho năm 2022 và năm 2023, phần chi phí bị loại trừ lớn làm đảo ngược kết quả tài chính từ lỗ thành lãi. Theo quy định về ưu đãi thuế, thời gian miễn thuế tính liên tục từ khi có thu nhập chịu thuế. Nếu năm 2022,2023 bị chuyển thành có lãi do kỹ thuật áp trần chi phí, doanh nghiệp buộc phải kích hoạt thời gian miễn thuế TNDN. Điều này khiến doanh nghiệp mất đi 02 năm miễn thuế thực tế khi dự án mới vận hành và chưa thực sự có lợi nhuận thương mại.Hiện nay Chính phủ đã ban hành Nghị định 20/2025/NĐ-CP (Sửa đổi nghị định 132/2020/NĐ-CP), loại bỏ tiêu chí xác định quan hệ liên kết đối với khoản vay từ tổ chức tín dụng độc lập, áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2024.
3. Đối với kỳ tính thuế năm 2022 và năm 2023, doanh nghiệp có bắt buộc phải thực hiện khống chế chi phí lãi vay theo Nghị định 132/2020/NĐ-CP hay không, khi bản chất đây là khoản vay ngân hàng thương mại độc lập để phục vụ dự án năng lượng.
Trường hợp bắt buộc phải khống chế lãi vay dẫn đến phát sinh thu nhập chịu thuế mang tính kỹ thuật Bộ tài chính có cơ chế hoãn hoặc linh hoạt thời gian tính ưu đãi miễn, giảm thuế TNDN cho doanh nghiệp thuỷ điện để bảo vệ quyền lợi ưu đãi đầu tư hợp pháp hay không?
Trả lời:
Về vấn đề này, Thuế tỉnh Tuyên Quang hướng dẫn như sau:
1. Về việc áp dụng quy định khống chế chi phí lãi vay đối với kỳ tính thuế năm 2022 và năm 2023.
Tại điểm d khoản 2 Điều 5 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP ngày 05/11/2020 của Chính phủ, quy định:
“d) Một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào (bao gồm cả các khoản vay từ bên thứ ba được đảm bảo từ nguồn tài chính của bên liên kết và các giao dịch tài chính có bản chất tương tự) với điều kiện khoản vốn vay ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay”.
Tại điểm a khoản 3 Điều 16 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP quy định:
“a) Tổng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ của người nộp thuế”.
Nghị định số 132/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 12 năm 2020 và áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020.
Tại Điều 3 Nghị định số 20/2025/NĐ-CP ngày 10/02/2025 của Chính phủ, quy định:
“Điều 3. Quy định chuyển tiếp
Trường hợp tại kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020, năm 2021, năm 2022, năm 2023, doanh nghiệp đi vay chỉ có quan hệ liên kết với tổ chức kinh tế hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 5 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP và doanh nghiệp đi vay với bên cho vay hoặc bảo lãnh thuộc trường hợp quy định tại điểm d.1 và điểm d.2 khoản 2 Điều 5 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Nghị định này, có giao dịch liên kết thuộc phạm vi điều chỉnh tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP và có chi phí lãi vay không được trừ theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 16 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP thì kể từ kỳ tính thuế năm 2024 thực hiện như sau:
“Trường hợp doanh nghiệp không có quan hệ liên kết và không phát sinh giao dịch liên kết theo quy định tại Nghị định số 132/2020/NĐ-CP và Nghị định này thì phần chi phí lãi vay không được trừ và chưa được chuyển sang các kỳ tính thuế tiếp theo tính đến cuối kỳ tính thuế năm 2023 được phân bổ đều chuyển sang các kỳ tính thuế tiếp theo cho thời gian còn lại theo quy định về thời gian được chuyển chi phí lãi vay tại điểmb khoản 3 Điều 16 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP.”
Nghị định số 20/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 27 tháng 3 năm 2025 và áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2024.
Căn cứ các quy định nêu trên, đối với kỳ tính thuế năm 2022 và năm 2023, việc xác định quan hệ liên kết và việc áp dụng quy định khống chế chi phí lãi vay phải căn cứ quy định pháp luật có hiệu lực áp dụng tại các kỳ tính thuế này.
Trường hợp tại năm 2022 và năm 2023 Công ty có khoản vay ngân hàng đáp ứng đầy đủ tiêu chí xác định quan hệ liên kết theo điểm d khoản 2 Điều 5 Nghị định số 132/2020/NĐ-CP thì Công ty thuộc trường hợp áp dụng các quy định của Nghị định số 132/2020/NĐ-CP, trong đó có quy định về giới hạn chi phí lãi vay tại khoản 3 Điều 16.
Việc Nghị định số 20/2025/NĐ-CP bổ sung trường hợp không áp dụng tiêu chí quan hệ liên kết đối với một số khoản vay từ tổ chức tín dụng không làm thay đổi nguyên tắc xác định quan hệ liên kết đã áp dụng đối với các kỳ tính thuế năm 2022 và năm 2023. Quy định chuyển tiếp tại Điều 3 Nghị định số 20/2025/NĐ-CP chỉ quy định cơ chế xử lý, chuyển tiếp đối với phần chi phí lãi vay không được trừ còn chưa được chuyển sang các kỳ tính thuế tiếp theo tính đến hết năm 2023; không có quy định xác định lại thu nhập chịu thuế hoặc hủy bỏ việc áp dụng giới hạn chi phí lãi vay đã xác định cho các kỳ tính thuế năm 2022 và năm 2023.
Do đó, nếu hồ sơ và số liệu thực tế của Công ty đáp ứng các điều kiện thuộc diện chuyển tiếp theo Điều 3 Nghị định số 20/2025/NĐ-CP thì Công ty thực hiện xử lý phần chi phí lãi vay không được trừ theo quy định chuyển tiếp kể từ kỳ tính thuế năm 2024. Việc xác định cụ thể số chi phí lãi vay được chuyển tiếp phải căn cứ hồ sơ vay vốn, chủ thể cho vay, tình trạng quan hệ liên kết của Công ty và các điều kiện cụ thể quy định tại Điều 3 Nghị địnhsố 20/2025/NĐ-CP.
2. Về thời điểm tính thời gian miễn thuế, giảm thuế TNDN trong trường hợp phát sinh thu nhập chịu thuế do điều chỉnh chi phí lãi vay
Theo các quy định pháp luật về Thuế hiện hành (Luật Thuế TNDN 2025, Nghị định 320/2025/NĐ-CP và Nghị định 255/2026/NĐ-CP), đối với doanh nghiệp thủy điện trong trường hợp phát sinh thu nhập chịu thuế do phải khống chế chi phí lãi vay, không thuộc danh mục các đối tượng được loại trừ theo quy định.
