Lộ trình nâng hạng 'tín nhiệm đầu tư' của Việt Nam
Việc được nâng hạng tín nhiệm trở nên cấp thiết trong bối cảnh Việt Nam đang huy động nguồn lực tài chính để thực hiện các kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các dự án quy mô lớn.
Chỉ còn cách ngưỡng 1 bậc
Đến thời điểm hiện nay, Việt Nam hiện đã đáp ứng phần lớn các tiêu chí định lượng cần thiết cho việc nâng hạng tín nhiệm lên mức “Đầu tư” (investment grade) như: tỷ lệ nợ trên GDP hay các tiêu chí cần cải thiện chủ yếu nằm ở mức độ định tính (khả năng dự đoán của chính sách).
Theo ông Michael Kokalari, Giám đốc phòng Phân tích kinh tế vĩ mô và Nghiên cứu thị trường VinaCapital, các vấn đề này ngày càng được chú trọng hơn khi nhận thức về tầm quan trọng của việc đạt xếp hạng tín nhiệm mức đầu tư tiếp tục gia tăng. Hiện nay, Việt Nam đang được xếp hạng thấp hơn 1 bậc so với mức đầu tư bởi S&P và Fitch và thấp hơn 2 bậc theo đánh giá của Moody’s.
Việc đạt được xếp hạng đầu tư sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng, bao gồm: giảm chi phí huy động vốn; tạo điều kiện thuận lợi triển khai các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn; hỗ trợ thị trường chứng khoán thông qua việc mở rộng khả năng tiếp cận của các nhà đầu tư tổ chức quốc tế.
“Do đó, việc được nâng hạng tín nhiệm trở nên cấp thiết hơn trong bối cảnh Việt Nam đang cần huy động nguồn lực tài chính lớn để thực hiện các kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các dự án quy mô lớn sử dụng công nghệ nhập khẩu như đường sắt cao tốc, đòi hỏi nguồn vốn lớn bằng ngoại tệ", ông Michael Kokalari phân tích.
Trong lịch sử, những quốc gia lần đầu tiên được nâng lên mức xếp hạng tín nhiệm mức “Đầu tư” thường ghi nhận mức tăng rất mạnh của thị trường chứng khoán trong giai đoạn xoay quanh thời điểm nâng hạng. Cụ thể, chỉ số chứng khoán của Ấn Độ tăng khoảng 308% và của Thái Lan tăng khoảng 150% khi tính từ 2 năm trước đến 2 năm sau thời điểm được nâng hạng.
Bên cạnh đà tăng của thị trường cổ phiếu, các đợt nâng hạng này còn kích hoạt làn sóng dòng vốn ngoại chảy mạnh vào các nền kinh tế nói trên, không chỉ thông qua cổ phiếu mà còn qua trái phiếu và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Nhờ đó, dự trữ ngoại hối của Ấn Độ đã tăng khoảng 150% và của Thái Lan tăng khoảng 250% chỉ trong vòng 2 năm kể từ khi được nâng hạng.
Gỡ các nút thắt còn lại
Trên cơ sở những tác động tích cực nêu trên, các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam đang tập trung tháo gỡ những nút thắt còn tồn đọng nhằm tiến tới đạt xếp hạng tín nhiệm mức “Đầu tư” từ 3 tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn gồm: S&P Global, Moody’s và Fitch.
Theo bà Thái Thị Việt Trinh, Chuyên gia phân tích kinh tế vĩ mô của VinaCapital, các tổ chức xếp hạng này xem xét một phạm vi rộng các yếu tố định lượng và định tính để đánh giá liệu một quốc gia có nền tài chính ổn định, hệ thống ngân hàng vững mạnh, thể chế đáng tin cậy và môi trường chính sách có tính dự báo cao hay không. Đây là những điều kiện then chốt nhằm bảo đảm khả năng trả nợ đúng hạn cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Trong số các chỉ tiêu quan trọng nhất mà các tổ chức xếp hạng tín nhiệm chú trọng có 3 chỉ số chính: tỷ lệ nợ công trên GDP; tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP (chủ yếu là nợ bằng USD); quy mô dự trữ ngoại hối, nhằm bảo đảm quốc gia có đủ năng lực thanh toán các nghĩa vụ nợ đối với các chủ nợ nước ngoài.
“Những tín hiệu gần đây cho thấy Chính phủ đang chủ động xử lý các rào cản còn tồn đọng đối với việc đạt xếp hạng mức “Đầu tư”, đồng thời dành mức độ ưu tiên cao hơn cho việc tháo gỡ các vấn đề then chốt đang cản trở tiến trình nâng hạng’, bà Thái Thị Việt Trinh chia sẻ.
Theo VinaCapital, hiện tổng nợ công của Chính phủ Việt Nam (khoảng 35% GDP) và nợ nước ngoài (khoảng 33% GDP) đều ở mức hợp lý khi so sánh với các quốc gia trong khu vực - những nước hiện đã được xếp hạng tín nhiệm ở mức "Đầu tư". Đáng chú ý, cơ cấu nợ nước ngoài của Việt Nam được phân bổ tương đối cân bằng giữa khu vực tư nhân và khu vực công.
Tuy nhiên, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã sụt giảm trong 2 năm qua, xuống mức thấp hơn 3 tháng nhập khẩu. Dù vậy, nguyên nhân của sự sụt giảm này được đánh giá là tương đối dễ để Chính phủ khắc phục.
Gần đây, Chính phủ đã triển khai các biện pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân giao dịch vàng trong nước, qua đó gián tiếp gia tăng lượng USD lưu thông trong nền kinh tế.
Bên cạnh các tiêu chí định lượng, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm cũng cho rằng Việt Nam vẫn cần cải thiện một số yếu tố định tính.
Cụ thể, Fitch nhấn mạnh khuôn khổ điều hành chính sách kinh tế của Việt Nam vẫn còn “tương đối chưa phát triển”. Mặc dù Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể trong việc cải thiện xếp hạng tín nhiệm, tăng 2 bậc từ BB- năm 2014 lên BB+ năm 2022.
S&P Global cho biết: “Có thể nâng xếp hạng nếu thể chế của Việt Nam được cải thiện đáng kể, đồng thời tăng cường tính dự báo và minh bạch của chính sách, bao gồm cả việc cung cấp dữ liệu đối ngoại đầy đủ và đáng tin cậy”.
Ông Michael Kokalari cho biết: “Một điểm thuận lợi là Chính phủ đang nhanh chóng triển khai hàng loạt cải cách quan trọng, cũng sẽ giúp giải quyết những vấn đề còn tồn tại. Các biện pháp nói trên được kỳ vọng sẽ đủ để giúp Việt Nam vượt qua các yêu cầu và đạt được xếp hạng tín nhiệm”.
Việt Nam đã và đang có những bước tiến đáng kể trong việc củng cố nền tảng thể chế, giải quyết vấn đề minh bạch trong công bố dữ liệu ngoại hối, cũng như thực thi giám sát tài chính và pháp lý chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, cần có một tinh thần quyết liệt hơn nữa để tháo gỡ các điểm nghẽn cụ thể mà các tổ chức xếp hạng tín nhiệm xem xét, nếu muốn đạt được mục tiêu nâng hạng tín nhiệm lên mức “Đầu tư” vào năm 2030.














