Xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam đang ở mức nào?
Theo ông Michael Kokalari - Giám đốc Phòng phân tích kinh tế vĩ mô và nghiên cứu thị trường của VinaCapital, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng được nâng xếp hạng tín nhiệm lên mức đầu tư (Investment grade) khi hiện chỉ còn cách mức này 1 bậc.
Việc đạt được xếp hạng đầu tư sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng, gồm: Giảm chi phí huy động vốn, tạo điều kiện thuận lợi triển khai các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn, hỗ trợ thị trường chứng khoán thông qua việc mở rộng khả năng tiếp cận của các nhà đầu tư tổ chức quốc tế.
Fitch Ratings đã nâng xếp hạng tín nhiệm với công cụ nợ dài hạn có bảo đảm của Việt Nam lên mức BBB- , đánh dấu lần đầu tiên một công cụ nợ liên quan đến quốc gia (sovereign-linked) của Việt Nam được xếp hạng mức đầu tư. Ngoài ra, Chính phủ đã công bố các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu đạt xếp hạng tín nhiệm mức đầu tư vào năm 2030.

Việc đạt được xếp hạng Đầu tư sẽ tạo điều kiện thuận lợi triển khai các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn.
Với những diễn biến gần đây, kết hợp cùng những thông tin trao đổi giữa VinaCapital với một số tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn, ông Michael Kokalari dự báo việc nâng xếp hạng có thể đạt được trong thời gian sớm hơn.
“Việt Nam hiện đã đáp ứng phần lớn các tiêu chí định lượng cần thiết cho việc nâng hạng, như tỷ lệ nợ/GDP, và các tiêu chí cần cải thiện, chủ yếu nằm ở mức độ định tính, như khả năng dự đoán của chính sách. Chúng tôi cho rằng các vấn đề này sẽ ngày càng được chú trọng hơn khi nhận thức về tầm quan trọng của việc đạt xếp hạng tín nhiệm mức đầu tư tiếp tục gia tăng. Hiện nay, Việt Nam đang được xếp hạng thấp hơn một bậc so với mức đầu tư bởi S&P và Fitch và thấp hơn hai bậc theo đánh giá của Moody’s”, ông Michael Kokalari khẳng định.
Việc Việt Nam được nâng hạng tín nhiệm lên mức đầu tư có thể mang lại kết quả tích cực hơn so với sự kiện FTSE Russell xem xét nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên nhóm mới nổi thứ cấp. Bởi những quốc gia lần đầu tiên được nâng lên mức xếp hạng tín nhiệm mức Đầu tư thường ghi nhận mức tăng rất mạnh của thị trường chứng khoán trong giai đoạn xoay quanh thời điểm nâng hạng.
Cụ thể, chỉ số chứng khoán của Ấn Độ tăng khoảng 308% và của Thái Lan tăng khoảng 150% khi tính từ hai năm trước đến hai năm sau thời điểm được nâng hạng. Bên cạnh đà tăng của thị trường cổ phiếu, các đợt nâng hạng này còn kích hoạt làn sóng dòng vốn ngoại chảy mạnh vào các nền kinh tế nói trên, không chỉ thông qua cổ phiếu mà còn qua trái phiếu và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Nhờ đó, dự trữ ngoại hối của Ấn Độ đã tăng khoảng 150% và của Thái Lan tăng khoảng 250% chỉ trong vòng hai năm kể từ khi được nâng hạng.
Như vậy, việc được nâng hạng tín nhiệm trở nên cấp thiết hơn trong bối cảnh Việt Nam đang cần huy động nguồn lực tài chính lớn để thực hiện các kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các dự án quy mô lớn sử dụng công nghệ nhập khẩu như đường sắt cao tốc và sản xuất điện - đòi hỏi nguồn vốn lớn bằng ngoại tệ.

Việt Nam hiện đã đáp ứng phần lớn các tiêu chí định lượng cần thiết cho việc nâng hạng.
Để sớm hiện thực hóa mục tiêu này, ông Michael Kokalari cần tập trung xử lý 3 vấn đề then chốt: Đầu tiên là tăng cường các “hàng rào an toàn” cho khu vực tài chính, gồm nâng cao quy mô dự trữ ngoại hối; củng cố sức khỏe hệ thống ngân hàng (cải thiện chất lượng tài sản, mức độ vốn hóa, khung chính sách); kiểm soát đòn bẩy tài chính quá mức; cùng với việc áp dụng các quy định cho vay chặt chẽ hơn.
Tiếp đó, nâng cao tính dự báo của chính sách và khuôn khổ pháp lý, thể hiện qua quy trình ra quyết định của Chính phủ rõ ràng hơn, với chu kỳ chính sách có thể dự đoán được. Đồng thời, thu hẹp các khoảng trống trong giám sát tài chính và quản trị doanh nghiệp, tăng cường các cơ chế bảo vệ pháp lý với nhà đầu tư nước ngoài.
Cuối cùng, cải thiện tính minh bạch dữ liệu, với việc công bố chi tiết hơn các số liệu về ngoại hối, như nợ tư nhân ngắn hạn, các vị thế ngoại hối kỳ hạn; công khai đầy đủ nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp nhà nước và các dự án PPP; cũng chuẩn hóa các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tài sản của ngân hàng, như nợ xấu, các khoản nợ được cơ cấu lại.













