Loại cỏ mọc đầy bờ ruộng, ven đường: Tưởng bỏ đi nhưng lại là vị thuốc được dùng từ lâu
Cỏ mần trầu thường bị xem là cỏ dại vì mọc um tùm ở bờ ruộng, ven đường. Ít ai biết, loại cây quen thuộc này được sử dụng trong y học cổ truyền với nhiều công dụng như thanh nhiệt, lợi tiểu, hỗ trợ hạ sốt và giảm viêm. Tuy nhiên, chuyên gia cũng khuyến cáo không nên tự ý dùng cây thay thế thuốc điều trị.
Thường xuất hiện ở ruộng đồng, bãi đất trống hay dọc các tuyến đường, cỏ mần trầu lâu nay vẫn được nhiều người xem là cỏ dại và thường nhổ bỏ. Tuy nhiên, trong y học cổ truyền, loại cây này được sử dụng như một vị thuốc với nhiều tác dụng được lưu truyền. Cỏ mần trầu có nhiều tên gọi như cỏ vườn trầu, cỏ màn trầu, cỏ dáng… Tên khoa học của cây là Eleusine indica (L.) Gaertn, thuộc họ Lúa (Poaceae).
Cây thường phát triển thành từng bụi lớn. Thân ban đầu bò sát mặt đất rồi vươn thẳng, có khả năng phân nhánh, chiều cao phổ biến khoảng 30-50cm. Lá dạng dải, đầu nhọn, mọc so le; phiến lá khá mềm và nhẵn, phần bẹ có lông mảnh. Các lá thường xếp thành hai hàng. Cụm hoa mọc tập trung ở đầu ngọn, gồm khoảng 5-7 bông, bên cạnh đó có thể xuất hiện thêm 1-2 bông nằm thấp hơn. Quả có hình thuôn, dài khoảng 3-4mm, gần giống dạng ba cạnh. Cây thường bước vào mùa hoa, quả từ tháng 5 đến tháng 7.

Cỏ mần trầu mọc phổ biến ở bờ ruộng, ven đường. Ảnh minh họa
Đây là loài cây thích nghi tốt với môi trường có nhiều ánh sáng và độ ẩm, đồng thời vẫn có thể phát triển ở nơi bán râm. Tại Việt Nam, cỏ mần trầu phân bố khá rộng, từ đồng bằng, trung du đến khu vực miền núi. Cây thường mọc thành từng đám và sinh trưởng nhanh nên được xếp vào nhóm cỏ dại phổ biến trong sản xuất nông nghiệp.
Tuy vậy, giá trị của cỏ mần trầu không chỉ nằm ở đặc điểm sinh trưởng. Theo Lương y Bùi Đắc Sáng, Hội Đông y Hà Nội, loại cây này còn được gọi bằng nhiều tên khác như ngưu cân thảo, tiết suất thảo, thanh tâm thảo, màng trầu, cỏ chỉ tía...
Trong y học cổ truyền, phần trên mặt đất và rễ của cây đều có thể được sử dụng làm dược liệu. Cỏ thường được thu hái vào mùa khô, sau đó rửa sạch rồi dùng tươi hoặc đem phơi khô để dùng dần.
Theo quan niệm y học cổ truyền, cỏ mần trầu có vị hơi ngọt, pha chút đắng, tính bình. Dược liệu này được cho là có tác dụng thanh nhiệt, làm mát cơ thể, hỗ trợ lợi tiểu, cầm máu, giảm viêm và thúc đẩy tuần hoàn máu.
Một số nghiên cứu cũng ghi nhận trong cỏ mần trầu có flavonoid, beta-sitosterol cùng các hợp chất có hoạt tính chống oxy hóa. Tuy nhiên, phần lớn bằng chứng hiện có mới được ghi nhận ở mức nghiên cứu thực nghiệm, chưa đủ cơ sở để khẳng định hiệu quả điều trị cụ thể trên người.
Trong kinh nghiệm dân gian, cỏ mần trầu được sử dụng với mục đích hỗ trợ hạ sốt, thanh nhiệt, lợi tiểu trong trường hợp tiểu ít hoặc khó tiểu. Một số nơi còn dùng cây trong các bài thuốc hỗ trợ người bị mụn nhọt, viêm da hoặc huyết áp cao.

Toàn cây cỏ mần trầu có thể được sử dụng làm dược liệu. Ảnh minh họa
Dù được sử dụng từ lâu trong dân gian và y học cổ truyền, cỏ mần trầu không nên được xem là thuốc thay thế cho các phương pháp điều trị đã được bác sĩ chỉ định. Đặc biệt, người đang mắc bệnh mạn tính như tăng huyết áp, bệnh gan hoặc sỏi đường tiết niệu cần thận trọng khi sử dụng.
Khi thu hái cây để làm dược liệu, cần ưu tiên những khu vực có môi trường sạch, tránh cây mọc tại nơi từng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hoặc có nguy cơ nhiễm kim loại nặng, hóa chất.
Tác dụng của dược liệu có thể không giống nhau ở từng người. Nếu muốn sử dụng cỏ mần trầu thường xuyên, dùng với liều lượng kéo dài hoặc kết hợp cùng thuốc đang điều trị, người bệnh nên trao đổi trước với bác sĩ hoặc thầy thuốc y học cổ truyền nhằm hạn chế nguy cơ tương tác và các tác dụng không mong muốn.

