[Loạt Megastory] Đồng Nai những ngày tháng Tư lịch sử: Gặp lại những người đi qua chiến tranh (Kỳ cuối)

Giữa mưa bom, pháo kích và vòng vây siết chặt của địch, những người lính Trung đoàn Đặc công 113 (sau này là Lữ đoàn Đặc công 113, Binh chủng Đặc công) đã chiến đấu giằng co đến cùng để giữ bằng được các cây cầu chiến lược, mở đường cho đại quân tiến vào Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức về những đêm chui rào, những trận đánh nghẹt thở và khoảnh khắc đồng đội ngã xuống ngay trước mắt vẫn đau đáu trong lời kể của những cựu chiến binh năm xưa.


Trung đoàn Đặc công 113 ra đời từ những năm tháng ác liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ ngày 3-6-1972 tại suối Bà Hào, huyện Vĩnh Cửu, giữa lòng Chiến khu Đ. Trung đoàn được sự giúp đỡ, cưu mang đùm bọc của cán bộ, nhân dân Biên Hòa đã liên tục tổ chức nhiều trận đánh lớn vào các trung tâm đầu não của kẻ thù như: sân bay, kho tàng, căn cứ đóng quân... giành được nhiều chiến công xuất sắc, gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề và hoang mang, khiếp sợ.
Để chuẩn bị cho Chiến dịch Hồ Chí Minh, gần cuối tháng 4-1975, Trung đoàn Đặc công 113 được giao nhiệm vụ đánh giữ cầu Ghềnh và cầu Hóa An (tỉnh Đồng Nai). Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp mở thông đường cho các cánh quân thần tốc tiến vào giải phóng Sài Gòn. Sau khi nhận được lệnh, đêm 24, rạng sáng 25-4-1975, Tiểu đoàn 23 và Tiểu đoàn 174 đã cử lực lượng tinh nhuệ nhất hành quân đến khu vực giáp ranh giữa 2 tỉnh Bình Dương và Đồng Nai, sau đó đặt sở chỉ huy trung đoàn gần cầu Hang để làm công tác chuẩn bị. Xong xuôi, các chiến sĩ di chuyển vào sát cầu Ghềnh, cầu Hóa An trong nội ô thị xã Biên Hòa.
Ông Trương Công Điệp, chiến sĩ C14, tiểu đoàn 174, Trung đoàn Đặc công 113 nhớ lại: Ngày 25-4-1975, Tiểu đoàn 174 và Tiểu đoàn 23 (khoảng 100 người) bắt đầu hành quân từ Đất Cuốc, Tân Uyên (nay là khu công nghiệp Đất Cuốc, xã Bắc Tân Uyên, Thành phố Hồ Chí Minh) xuống Cầu Hang - Biên Hòa. “Máy bay địch bay rất nhiều nhưng chỉ đánh vào ban ngày, không đánh ban đêm. Do đó, ban ngày chúng tôi tìm bụi rậm để ngủ nghỉ, chỉ hành quân vào ban đêm để tránh địch” - ông Điệp kể.

3 giờ sáng 27-4, 2 tiểu đoàn trên đã có mặt ở Cầu Hang, còn địch tập trung ở khu vực chợ Hóa An ngày nay. “Chúng tôi chỉ cách địch cánh đồng mía, khoảng 300- 400m. Khi chúng tôi đang đào công sự, địch phát hiện, tấn công ráo riết bằng cả máy bay trực thăng lẫn bộ binh. Máy bay địch ở ngay trên đầu, hai bên nhìn thấy nhau rất rõ nên nhiều đồng đội hi sinh. Chúng tôi vẫn cố gắng vừa né địch vừa đào công sự để kê được súng và bắt đầu bắn trả. Khi chúng tôi bắn rớt 1 máy bay trực thăng của địch, tình hình mới bớt căng thẳng bởi địch sợ, chạy và không đưa trực thăng lên bắn trả nhiều như trước nữa” - ông Điệp nhớ lại.
Khoảng 4 giờ 30 phút ngày 27-4, lực lượng đảm nhiệm đánh cầu Ghềnh và cầu Hóa An bắt đầu xuất kích, đối đầu ngay với địch tại các khu vực đầu cầu. Với sự tinh nhuệ, dũng cảm, chỉ sau 30 phút, các mũi tiến công đã đánh bật địch khỏi các chốt trên cầu. Tuy nhiên, chỉ 4 tiếng sau, địch bắt đầu dùng các loại hỏa lực trút xuống, làm rung chuyển toàn bộ khu vực. Khi pháo vừa dứt, địch bắt đầu sử dụng bộ binh tràn vào, tấn công áp đảo. Tiếp đó, chúng sử dụng biệt động quân, xe tăng thọc vào sở chỉ huy trực tiếp của ta và các chốt đang giữ, quyết tâm chiếm lại 2 cây cầu vừa bị ta chiếm.

Ông Điệp nhớ lại: Tình cảnh lúc ấy tại cầu Hang rất cam go. Tiểu đoàn chúng tôi đã luồn sâu vào trong lòng địch nên không thể thoát ra, hai bên giằng co rất ác liệt ở cầu Hóa An. Theo kế hoạch, 2 tiểu đoàn chỉ giữ cầu đến ngày 27-4, cùng lắm là trưa ngày 28-4 nhưng họ đã phải chiến đấu đến chiều 29-4, do đó, vũ khí, đạn dược cũng cạn kiệt, tình thế trở nên ngày càng khó khăn. Tuy nhiên, sau 3 ngày phòng thủ kiên cường, trước sự tấn công mãnh liệt của pháo và bộ binh, xe tăng địch, các chiến sĩ đặc công đã xuất sắc giữ vững trận địa, không để địch chiếm lại 2 cây cầu. Đến trưa 29-4-1975, khi quân giải phóng của ta tấn công địch, đơn vị đã chớp thời cơ đồng loạt tiến công khiến quân địch bỏ chạy. Sáng 30-4, các chiến sĩ Trung đoàn Đặc công 113 đã cùng những người lính Quân đoàn 4 tiến về giải phóng Sài Gòn, đi qua các cây cầu mà họ đã chiến đấu quả cảm, đổ bao xương máu để giữ vững.


Khi đang học trung học phổ thông, ông Vũ Đức Ninh (sinh năm 1954) đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ khi vừa 18 tuổi. Năm 1972, ông được huấn luyện trong binh chủng đặc công thuộc Sư đoàn 305. Đến cuối năm, ông nhận lệnh “đi B” vào chiến trường miền Nam, về căn cứ Chiến khu Đ rồi được bổ sung vào Trung đoàn Đặc công 113. Hành trình Nam tiến vô cùng gian nan, có chặng đi bằng tàu, ô tô, nhưng từ dãy Trường Sơn vào đến Chiến khu Đ, ông và đồng đội phải đi bộ giữa mưa bom, bão đạn.

Tại đây, ông được những chiến sĩ thế hệ đi trước tận tình dìu dắt, từ rèn bản lĩnh, bồi dưỡng nghiệp vụ đến trực tiếp đưa đi thực địa, tập chui rào, luồn sâu vào căn cứ địch. Những ngày đầu đối mặt kẻ thù ở cự ly rất gần trong các đêm trinh sát, ông không khỏi hồi hộp, căng thẳng bởi cự ly quá gần, tiếng lính địch trò chuyện trên vọng gác nghe rõ mồn một. Nhưng càng trải qua nhiều trận, nỗi sợ dần lùi lại, nhường chỗ cho sự gan góc, bình tĩnh và tinh thần xung kích của một người lính đặc công luôn sẵn sàng chui rào, bám địch để làm nhiệm vụ.
Trong cuộc đời binh nghiệp của ông, trận đánh đêm 20-10-1974 tại chốt vườn bưởi Tân Uyên là trận đánh đầu tiên mang lại chiến công vang dội, thể hiện nghệ thuật đánh đặc công "xuất quỷ nhập thần" - dùng ít thắng nhiều, dùng tinh nhuệ để trị quân số đông. Trận đánh này đội hình của ông Ninh chỉ có 11 người nhưng tiêu diệt gọn 1 lô cốt khoảng 100 tên địch. Tuy nhiên, trận đánh cũng khiến 2 đồng đội của ông hy sinh, những người còn lại đều bị thương. “Bộ Chỉ huy Miền khen chúng tôi đã có thành tích xuất sắc. Ngay trận đầu ra quân, chúng tôi cũng thu được nhiều thành công, tạo cho tôi lòng quả cảm, chỉ biết tiến lên hoàn thành nhiệm vụ” - ông Ninh nhớ lại.


Sinh ra và lớn lên khi đất nước chịu cảnh chiến tranh, ông Ninh đã được hun đúc tình yêu quê hương, căm thù giặc, do đó, việc nhập ngũ và ra chiến trường là lẽ đương nhiên. “Trước mỗi trận đánh, chúng tôi luôn tổ chức lễ truy điệu cho chính mình và các đồng đội. Nhiều đồng chí hy sinh, nhiều đồng chí được truy điệu 3-4 lần nhưng vẫn may mắn trở về. Chúng tôi gần như không biết sợ hãi, không màng tới thành tích, chỉ sợ không hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao” - ông Ninh vẫn tràn đầy quyết tâm trong lời kể.



Trên khắp chiến trường miền Đông Nam Bộ, ông Ninh và đồng đội đã hành quân và chiến đấu qua nhiều địa bàn ác liệt. Mỗi trận đánh đi qua không tránh khỏi mất mát. “Khi có đồng đội hy sinh, dù thân thể rã rời sau trận đánh ác liệt, chúng tôi vẫn gắng sức cáng, cõng các liệt sĩ vượt qua sình lầy để đưa về nơi an táng. Trong khi đó, hiểm nguy vẫn luôn bủa vây. Pháo kích của địch liên tiếp dội xuống, trực thăng quần thảo trên đầu, ráo riết truy lùng lực lượng ta. Để bảo toàn lực lượng và hoàn thành nhiệm vụ, chúng tôi phải ngụy trang toàn thân làm sao giống, hòa lẫn với địa hình, cây cỏ, đất đá xung quanh, khiến địch khó phân biệt đâu là thiên nhiên, đâu là người lính” - ông Ninh kể.
Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, toàn đại đội của ông Ninh được điều về tập kết tại Nhà Xanh với nhiệm vụ đánh chiếm tất cả các cây cầu: cầu Ghềnh, cầu Hóa An, cầu Hang - án ngữ đường tiếp tế của địch, yểm trợ cho quân ta đột nhập vào Sài Gòn. Việc chiếm cầu Ghềnh, cầu Hóa An không khó khăn, quân ta bắt được hết lính gác cầu của địch chỉ trong đêm 27-4-1975. Nhưng không ngờ, địch tập trung lực lượng, trên thì máy bay trực thăng, dưới thì bộ binh, súng các loại tập trung hỏa lực bắn vào 2 đầu cầu để chiếm lại cầu.

Ông Ninh nhớ lại: “Chúng tôi kiểm tra và cắt hết dây điện, bom mìn trên cầu mà địch dùng để phá cầu. Cứ như thế, chúng tôi quần nhau với địch suốt 3 ngày và giữ được cầu. Nhưng xe tăng địch quần thảo khắp các cánh đồng xung quanh tìm giết chúng tôi, đồng đội trong đơn vị cũng hy sinh rất nhiều. Khi trận chiến đang cam go, chúng tôi không thể làm cách khác là phải để lại đồng đội vừa hy sinh tại chỗ, băng vết thương cho người bị thương, đồng thời, tiếp tục chiến đấu bởi điều quan trọng là phải giữ được cầu cho quân ta tiến vào Sài Gòn. Sau khi trận đánh kết thúc, chúng tôi mới tìm chỗ để đưa liệt sĩ đi chôn cất”.
Đến trưa ngày 29-4-1975, cuộc chiến gần như kết thúc vì “cánh cửa thép” Xuân Lộc đã mở toang, đại quân ta tiến vào Sài Gòn nên địch bỏ xe tăng ở cánh đồng để tháo chạy.
Hơn 50 năm, cuộc chiến đã lùi xa, nhưng với những người lính năm xưa, những ngày tháng Tư lịch sử vẫn chưa bao giờ phai nhạt. Đó không chỉ là ký ức về những trận đánh khốc liệt, về mưa bom, lửa đạn và những lần đối mặt giữa ranh giới sống - chết, mà còn là ký ức về đồng đội, về những người đã mãi mãi nằm lại cho ngày đất nước toàn thắng.













